Vấn đề phát hiện sớm bệnh Đái tháo đường, giảm số lượng bệnh nhân chưa được chẩn đoán hiện nay.

Cập nhật lúc : 15/06/2016 15:42

Vấn đề phát hiện sớm bệnh Đái tháo đường, 
giảm số lượng bệnh nhân chưa được chẩn đoán hiện nay

Người dự thi: Bác sỹ Nguyễn Thị Thu Huyền.
Khoa Nội tổng hợp - Bệnh viện Đa khoa Đức Giang. 

1. Vài nét sơ lược về tình hình bệnh Đái tháo đường:
 
- Bệnh Đái tháo đường (ĐTĐ) là bệnh không lây nhiễm gia tăng nhanh trên thế giới và cả Việt Nam. Theo hiệp hội ĐTĐ thế giới (IDF), năm 1994 cả thế giới có 110 triệu người, dự báo đến năm 2030 sẽ có 552 triệu người mắc bệnh, trong đó chủ yếu là ĐTĐ týp2. Theo số liệu của Hội Nội tiết Đái tháo đườngViệt nam ước tính: 5,7% dân số Việt nam mắc bệnh ĐTĐ, trong đó 60 % chưa được phát hiện bệnh ĐTĐ; ngay lúc chẩn đoán ĐTĐ týp 2 có đến 50% bệnh nhân đã xuất hiện biến chứng, gần 50% các tế bào beta mất chức năng, trên 80% bệnh nhân có dấu hiệu đề kháng insulin.
 
- Mặc dù đã có rất nhiều tiến bộ trong phương pháp điều trị cũng như các biện pháp phòng ngừa tích cực, bệnh nhân ĐTĐ vẫn có rất nhiều biến chứng gây tử vong và tàn phế. Những nghiên cứu ở một số nước phát triển cho thấy 5-10% tổng ngân sách dành cho y tếbuộc phải chi cho việc chăm sóc ĐTĐ và biến chứng của bệnh. 
 
-Có khoảng 1 triệu người Việt nam biết mình mắc phải bệnh ĐTĐ còn 3 triệu người nữa không biết mình cũng mang căn bệnh này là một con số khiến những người làm ngành y chúng ta phải suy nghĩ trăn trở: Làm thế nào để có thể phát hiện bệnh sớm ? 
 
2. Một số nguyên nhân và giải pháp: 
Ở nước ta việc phòng chống bệnh ĐTĐ còn gặp nhiều khó khăn do đội ngũ thầy thuốc chuyên khoa còn thiếu, chi phí điều trị tốn kém do người bệnh được phát hiện muộn và có nhiều biến chứng, công tác giáo dục người bệnh chưa được tốt. Với vai trò là bác sỹ chuyên ngành nội tiết tôi mạnh dạn đưa ra một số nguyên nhân và giải pháp sau:
 
2.1 Về phía thầy thuốc: 
 
a)Thầy thuốc chuyên khoa hay đa khoa cần cẩn trọng khi thăm khám, nếu thấy người bệnh có các triệu chứng hoặc dấu hiệu của bệnh đều phải cho làm các test thăm dò chuyên khoa để có biện pháp theo dõi, quản lý bệnh.
 
*Bệnh ĐTĐ cần phải được sàng lọc một cách có hệ thống ở người trên 40 tuổi hoặc ở lứa tuổi trẻ hơn nếu có các yếu tố nguy cơ.
 
Những yếu tố nguy cơ dễ mắc ĐTĐ: 
 
- Thừa cân hoặc béo phì: Chỉ số khối cơ thể cao (BMI>=23)
 
- Tăng huyếtáp (Huyết áp>=140/90 mmHg)
 
- Tronggia đình có người thân trực hệ mắc bệnh Đái tháo đường (ví dụ bố mẹ đẻ, anh chị, em ruột, anh chị em sinh đôi, con đẻ…)
 
- Phụ nữ có tiền sử ĐTĐ thai kỳ, sinh con trên 4000 gam hoặc dưới 2500 gam; có hội chứng buồng trứng đa nang. 
 
- Người trên 45 tuổi.
 
- Người có nghề nghiệp tĩnh tại.
 
- Người được chẩn đoán là rối loạn đường huyết lúc đói hoặc rối loạn dung nạp glucose.
 
- Người được chẩn đoán là rối loạn lipid máu, đặc biệt là khi có HDL thấp (<0,9 mmol/l) và triglyceride cao >=2,2mmol/l)
 
* Tất cả các phụ nữ có thai cần được đánh giá nguy cơ bị ĐTĐ ở lần khám thai đầu tiên. Có khoảng 45% bệnh nhân ĐTĐ thai kỳ có nguy cơ bị ĐTĐ thai kỳ ở lần có thai sau và 65% bệnh nhân này có nguy cơ thành ĐTĐ týp 2 sau 10-15 năm.
 
*Xét nghiệm dùng để sàng lọc là đường huyết tương lúc đói do dễ làm, thuận tiện và kết quả ổn định.Nếu kết quả là bình thường, sẽ kiểm tra lại đường huyết sau mỗi 3 năm. Nếu kết quả là “rối loạn đường huyết lúc đói” hoặc “rối loạn dung nạp glucose” kiểm tra đường huyết mỗi năm sau đó.Xét nghiệm máu mao mạch bằng máy thử đường huyết cá nhân đã được hiệu chỉnh cho chỉ số đường mao mạch gần như trong huyết tương có thể dùng trong điều tra dịch tễ vì ưu điểm cho kết quả nhanh, số lượng máu lấy rất nhỏ.
 
b) Thày thuốc cần hướng dẫn người bệnh thăm khám định kỳ tại các cơ sở y tế, tùy theo mức độ bệnh tật mà quyết định phương pháp không dùng thuốc (bằng chế độ dinh dưỡng, luyện tập) hay phối hợp thuốc, các trung tâm Nội tiết phải lập hồ sơ theo dõi quá trình tiến triển của bệnh. 
 
2.2 Về phía người bệnh: 
 
a)Người bệnh nên thường xuyên tự kiểm tra sức khỏe của mình, luôn ghi nhớ “phòng bệnh hơn chữa bệnh”. Cụ thể là phải đến thày thuốc khám nếu gặp phải 1 trong các trường hợp sau:
 
-Người trên 45 tuổi không có yếu tố nguy cơ thì 6 tháng /1 lần phải đi kiểm tra sức khỏe.
 
- Người 45 tuổi có 1 yếu tố nguy cơ thì 3 tháng /1 lần.
 
-Người 40 tuổi trở lên không có yếu tố nguy cơ thì 12 tháng/ 1 lần. có 1 yếu tố nguy cơ thì 3 tháng /1 lần.
 
-Người 40 tuổi có 1 yếu tố nguy cơ thì 6 tháng/ 1 lần. 
 
-Người 40 tuổi có từ 2 yếu tố nguy cơ thì 3 tháng/ 1 lần.
 
-Cá biệt người trên 30 tuổi có từ 2 yếu tố nguy cơ thì 6tháng/ 1 lần.
 
b) Đối với trẻ em: Phụ huynh cần đưa trẻ đến gặp thầy thuốc để phát hiện bệnh ĐTĐ týp 1nếu trẻ có bất kỳ biểu hiện nào trong 4 chữ T sau: 
 
- Toilet: Sử dụng nhà vệ sinh thường xuyên, tránh dùng tã ướt hay ngủ trên giường của trẻ bị ĐTĐ trước đó;
 
- Thirsty: Uống nhiều chất dịch hơn bình thường nhưng đừng cho trẻ khát khô ở cổ.
 
- Tired: Cảm thấy mệt mỏi hơn bình thường
 
- Thinner: Ốm yếu, sụt cân. 
 
2.3 Về cơ sở luật pháp:

- Một trong những điều quan trọng đảm bảo thành công của Chương trình phòng chống bệnh ĐTĐ ở mọi quốc gia là “ Chương trình phải được sự trợ giúp của Chính phủ, bên cạnh sự hợp tác quốc tế và các tổ chức nhân đạo khác”.
 
- Tổ chức y tế thế giới WHO đã lấy ngày 14/11 là ngày thế giới phòng chống bệnh ĐTĐ (ngày sinh của FREDRICH Banting – người đã tìm ra insulin vào năm 1922 để điều trị bệnh ĐTĐ)
 
- Những cơ sở pháp lý quan trọng để chúng ta tiến hành chương trình phát hiện sớm, phòng chống bệnh ĐTĐ:
 
+ Nghị định 77 của Chính phủ, năm 2002, đã phê duyệt “Chương trình phòng chống các bệnh không lây”- trong đó có bệnh ĐTĐ.
 
+ Thông tư số11- Liên Bộ Nội vụ - Y tế, năm 2004, đã quy định thành lập các Trung tâm Nội tiết tại các tỉnh thành phố để tạo thành mạng lưới thống nhất từ trung ương đến cơ sở.
 
+ Trong những năm qua Hội Nội tiết – Đái tháo đường Việt Nam đã mở nhiều lớp đào tạo, nhiều buổi hội thảo khoa học để liên tục cập nhật những kiến thức mới và kinh nghiệm điều trị cho các thầy thuốc chuyên khoa hay đa khoa góp phần nâng cao chất lượng điều trị và chăm sóc người bệnh ĐTĐ.
 
Phòng và phát hiện sớm bệnh ĐTĐ là kế hoạch của liên ngành không chỉ riêng của ngành y tế mà đòi hỏi sự nỗ lực chung tay của các bộ, ngành, các cấp từ trung ương đến địa phương và người dân. Mỗi người dân hãy dành một chút thời gian đề tìm hiểu về căn bệnh ĐTĐ qua các phương tiện thông tin đại chúng như đài truyền thanh, truyền hình, báo chí và các buổi tư vấn sức khoẻ trực tiếp tại từng địa phương từ đóbiết cách phòng, phát hiện sớm đẩy lùi căn bệnh được xem là “đại dịch” ở các nước đang phát triển này.
 
3.Lời kết: 
Để kết thúc bài viết này tôi xin kể về trường hợp một bệnh nhân đặc biệt của phòng khám nội tiết bệnh viện Đa khoa Đức Giang nơi tôi đã công tác 15 năm. Bệnh nhân N.T.C, nữ, sinh năm 1980. Bệnh nhân lập gia đình năm 32 tuổi, sau 3 năm vẫn chưa có thai mặc dù hai vợ chồng đi khám được kết luận là sức khỏe bình thường. Tháng 3 năm 2015 bệnh nhân đến khám tại khoa sản được các bác sỹ phát hiện đường máu cao và chuyển đến phòng khám nội tiết của chúng tôi để điều trị. Thật là may mắn sau 5 tháng tiêm insulin đường huyết ổn định thì chị có thai, chị đã sinh được một em bé vào ngày 22/4/2016 . Niềm vui này là phần thưởng vô giá không chỉ dành cho gia đình chị mà còn dành cho tất cả thày thuốc đã từng thăm khám và điều trị cho bệnh nhân.
 
Nguyễn Thị Thu Huyền
 
 
 

10 hoạt động nổi bật trong tháng


Quảng cáo