UNG THƯ PHỔI

Cập nhật lúc : 15/06/2016 11:05

UNG THƯ PHỔI
 
Thạc sỹ: Nguyễn Thị Hạnh
Phó trưởng phụ trách, Bộ môn Lao, Trường Đại Học Y Dược Thái Bình
 
ĐẶT VẤN ĐỀ
 
Theo các số liệu thống kê mới nhất về tình hình bệnh ung thư trên toàn thế giới và tại Việt Nam, ung thư phổi (UTP) là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu với tỷ lệ mắc bệnh cao và độ tuổi mắc bệnh ngày càng giảm, ước tính mỗi năm có hơn 20.000 bệnh nhân UTP mới xuất hiện trên phạm vi cả nước. Với tốc độ phát triển dân số và sự gia tăng tuổi thọ như hiện nay thì ước tính đến năm 2050, thế giới sẽ có thêm khoảng 27 triệu trường hợp ung thư mới mắc và khoảng 17,5 triệu bệnh nhân tử vong mỗi năm. Tỷ lệ mắc UTP thay đổi theo vùng địa lý và quốc gia. Ở nam giới, tỷ lệ mắc UTP cao nhất tại Đông Âu, Bắc Mỹ, Nga và thấp nhất ở Châu Phi, Trung Nam Á. Ở nữ giới, tỷ lệ mắc UTP cao nhất ở Bắc Mỹ, các nước khu vực Xcăng-đi-na-vi và Trung Quốc. Tại Mỹ, UTP là loại ung thư đứng hàng thứ hai sau ung thư tiền liệt tuyến ở nam giới và ung thư vú ở nữ giới. Theo một thống kê năm 2103, ước tính có khoảng 118. 080 ca mới mắc UTP ở nam giới và 110.110 ở nữ giới bị mắc ung thư phổi ở Mỹ. Tại Mỹ, năm 2016 xấp xỉ 1/3 số bệnh nhân tử vong vì ung thư là do ung thư phổi với số bênh nhân tử vong khoảng 158.000 người. Điều đáng lưu ý là UTP là một ung thư có mức độ ác tính cao, thời gian sống thêm 5 năm ở bệnh nhân ung thư phổi chỉ khoảng 14%, con số này ít thay đổi ở nhiều thập kỷ qua. Tại Việt Nam, UTP là nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thứ hai sau ung thư gan, năm 2008 có 17.583 ca tử vong do UTP trong đó nam giới 11.070 ca và nữ giới 6.513 ca. 
 
Hiện nay, tỷ lệ mắc bệnh và tử vong do UTP ở nam giới có xu hướng giảm ở các nước phát triển (Mỹ, Canada, Anh) do tỷ lệ hút thuốc ở nam giới ở các nước này giảm trong khi lại có chiều hướng gia tăng ở các nước đang phát triển. Ngược lại, tỷ lệ mắc bệnh và tử vong do UTP đang có xu hướng gia tăng ở nữ giới do tỷ lệ nữ giới hút thuốc ngày càng tăng đa số là do phát hiện muộn. Vì vậy cần phát hiện sớm và điều trị kịp thời cho bệnh nhân. 
 
1. Các nguyên nhân có thể gây ra ung thư phế quản:
 
1.1. Thuốc lá: Các nhà nghiên cứu đã tìm ra một vài nguyên nhân dẫn đến ung thư phổi, hầu hết có liên quan tới việc sử dụng thuốc lá. Thuèc l¸ lµ yÕu tè nguy c¬ chÝnh trong bÖnh sinh cña UTPQ. Nguy cơ gây ung thư phổi càng cao khi hút càng nhiều điếu trong một ngày và hút càng nhiều năm. Các chất độc hại, là những tác nhân gây ung thư, có trong thuốc lá làm tổn hại tới các tế bào ở trong phổi. Dần dần, những tế bào này có thể trở thành ung thư. Ngừng hút thuốc lá có thể làm giảm đáng kể nguy cơ ung thư phổi, nếu bỏ hút thuốc trước 40 tuổi giảm nguy cơ các bệnh do hút thuốc đến 90%. Những người hút các loại thuốc lá khác và những người hút thuốc lá thụ động cũng có nguy cơ gây ung thư phổi tương tự như hút chủ động thuốc lá điếu.
 
1.2. Ô nhiễm không khí: 
 
Do hơi đốt ở gia đình, xí nghiệp, hơi xả ra từ các động cơ.
 
- Nghề nghiệp: công nhân làm việc ở một số mỏ có nguy cơ ung thư phổi cao hơn như: mỏ phóng xạ uranium, mỏ kền, mỏ cromate; công nhân làm việc trong một số ngành nghề có tiếp xúc amiant, công nghiệp hóa dầu, công nghiệp nhựa, khí đốt. 
 
- Radon: Radon là sản phẩm của sự phân hủy tự nhiên từ uranium trong đất, đá, nước và cuối cùng trở thành một phần của không khí mà chúng ta hít thở hàng ngày. Do đó, việc cần thiết là phải đo lượng radon trong nhà, xem có vượt mức cho phép hay không để có biện pháp xử lý kịp thời. Hiện nay, các nghiên cứu cho thấy phơi nhiễm với radon có liên quan tới 10% trường hợp ung thư phổi.
 
-Amiăng: Amiăng là tên gọi của một nhóm các chất khoáng, có trong tự nhiên dưới dạng sợi và được sử dụng trong một số ngành công nghiệp. Ở Việt Nam hiện nay, chỉ có amiang trắng được phép đưa vào sản xuất.
 
- Ô nhiễm môi trường: Các yếu tố môi trường như Arsenic, beryllium, tia phóng xạ.
 
1.3. Di truyền: Yếu tố cơ địa mang tính di truyền dễ mắc ung thư phổi, có thể có yếu tố gia đình liên quan đến một số đột biến gen. Ung thư phổi có khuynh hướng di truyền (khoảng 5 – 10%). Những người có cha mẹ, anh chị em hoặc con cái bị ung thư phổi trước tuổi 60 làm tăng nguy cơ mắc bệnh ung thư phổi.
 
1.4. Các bệnh ở phế quản phổi: Ở những bệnh nhân mắc các bệnh phổi trước đó như bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính ( COPD), xơ phổi kẽ vô căn, lao phổi cũ để lại di chứng xơ ở phổi… cũng dễ mắc ung thư phổi. Người ta thấy rằng nhóm bệnh nhân hút thuốc mắc COPD bị ung thư phổi cao hơn gấp 6 lần những người cũng hút thuốc nhưng không mắc COPD.
 
1.5. Một số yếu tố khác:
 
+ Giới: nam giới mắc ung thư phổi nhiều hơn nữ giới, tuy nhiên có lẽ do nam giới hút thuốc nhiều hơn nữ. 
 
+Tuổi: thường gặp nhiều nhất ở tuổi 40-60 tuổi, dưới 40 ít gặp và trên 70 tuổi tỷ lệ cũng thấp. 
 
Tóm lại: Hút thuốc là là nguyên nhân chủ yếu đã đến ung thư phổi, gần đây chúng ta cần quan tâm hơn nữa đến ô nhiễm môi trường sống, tiếp xúc với bụi khói ở môi trường làm việc hoặc môi trường sống tác động lên một cơ địa nhạy cảm dễ phát sinh ung thư phổi. Hiện nay, do tăng tỷ lệ hút thuốc, ô nhiễm môi trường sống và quá trình công nghiệp hóa đã làm gia tăng tỷ lệ mắc và tử vong do ung thư phổi.
 
2. Một số phương pháp phát hiện và điều trị ung thư phổi.
 
Ung thư phổi là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu trên toàn thế, tỷ lệ sống 5 năm vẫn còn dưới 20%. Việc cai thuốc lá có thể làm giảm tỷ lệ mắc bệnh ung thư phổi và tử vong. Các nghiên cứu gần đây đã cho thấy giảm tỷ lệ tử vong ung thư phổi có thể đạt được bằng cách phát hiện sớm với việc sử dụng CT xoắn ốc liều thấp, điều trị bằng phân tử và miễn dịch có cải thiện tỷ lệ sống sót cao hơn.
 
2.1. Chụp cắt lớp vi tính liều thấp (LDCT= low dose citi scanner):
 
Chụp CT có thể phát hiện các tổn thương nhỏ, đặc biệt là nốt nhỏ, đây là một trong các kỹ thuật cần trong chẩn đoán ung thư phổi. Chụp cắt lớp vi tính liều thấp (LDCT) hiện nay được công nhận là xét nghiệm tốt phát hiện sớm ung thư. Thường dùng khoảng 10 - 30% liều chuẩn, ban đầu. Khuyến cáo sử dụng LDCT với những người có tuổi 55 đến 77 , có tiền sử hút thuốc lá ≥ 30 gói/ năm và ngừng hút thuốc <15 năm (Trung tâm dịch vụ Medicare và Medicaid, 2015). 
 
2.2. Các xét nghiệm tế bào học. 
 
+ Xét nghiệm mô bệnh học khối u (giải phẫu bệnh) : là tiêu chuẩn vàng để chẩn đoán xác định UTP. Mẫu bệnh phẩm có thể lấy từ mô khối u sau phẫu thuật hoặc sinh thiết bằng kim qua thành ngực dưới sự hướng dẫn của CT. Ngoài xác định phân nhóm, hình ảnh giải phẫu bệnh còn cho biết mức độ ác tính và xâm lấn của khối u, góp phần lựa chọn phác đồ điều trị và tiên lượng bệnh. 
 
2.3. Một số phương pháp xâm nhập để chẩn đoán UTP:
 
+ Nội soi phế quản: Hơn 50% bệnh nhân ung thư phổi giai đoạn muộn có tổn thương trong lòng các phế quản lớn. Lòng phế quản bị hẹp lại có thể do u bên trong hoặc do u bên ngoài hay hạch to chèn ép vào. Tổn thương trong lòng phế quản có thể nhìn thấy bằng mắt thường và có thể sinh thiết một cách dễ dàng. 
 
+ Chọc hút dịch màng phổi và sinh thiết màng phổi.
 
+ Nội soi màng phổi và sinh thiết phổi mở.
 
2.4. Xác định các đột gen ở bệnh nhân UTP.
 
+ Xác định các đột gen ở mô ở bệnh nhân UTP.
 
Hiện tại, rất nhiều kỹ thuật sinh học phân tử giúp xác định đột biến gen đã được xây dựng và phát triển dựa trên cơ sở tỷ lệ tế bào ung thư trong chủ yếu ở mô, có thể kể đến một số như kỹ thuật giải trình tự gen, kỹ thuật phân tích đa hình thái chiều dài phân đoạn giới hạn (PCR-RFLP), kỹ thuật phân tích cấu trúc đa hình thái chuỗi đơn, kỹ thuật real-time PCR dựa trên công nghệ Scorpion-ARMS, kỹ thuật real-time PCR sử dụng đoạn dò TaqMan, kỹ thuật sắc ký lỏng cao áp biến tính một phần, kỹ thuật SMAP... 
 
+ Xác định các đột gen ở máu ngoại vi ở bệnh nhân UTP. Mức độ lưu hành DNA trong máu đã được tìm thấy ở những bệnh nhân ung thư phổi cao hơn trong máu ở người không mắc ung thư. Hầu hết các DNA lưu hành vượt trội này có nguồn từ tế bào chết của khối ung thư phổi nguyên phát hoặc ổ di căn. Vì vậy, hiện nay máu là một sự thay thế tiềm năng cho các mô khối u để cung cấp một bệnh phẩm ít xâm lấn, lấy mẫu dễ dàng, có thể làm nhiều lần để có thông tin vể gen và dự đoán được đáp ứng điều trị và tiên lượng bệnh.
 
2.5. Các phương pháp điều trị hiện nay.
 
Ngoài những phương pháp cơ bản đang thực hiện như.
 
- Phẫu thuật
 
- Hóa trị
 
- Xạ trị…. 
 
Hiện nay một đang áp dụng điều trị phương pháp 
 
- Điều trị đích.
 
Đây là phương pháp mới điều trị rất hiệu quả hiện nay áp dụng điều trị cho những bệnh nhân ung thư phổi, nhất là ung thư phổi không tế bào nhỏ, cần phải xét nghiệm đột biến gen như gen EGFR, KAS trước khi điều trị…..sau đó đưa thuốc điều trị đặc hiệu theo gen đột biến, đòi hỏi phương pháp xét nghiệm kỹ thuật cao, tốn kém. Nhưng rất hiệu quả, kéo dài thời gian sống, nâng cao chất lượng sống người bệnh.
 
Do đó, hiện nay dựa vào nguyên nhân và các xét nghiệm kỹ thuật cao để sàng lọc, phát hiện sớm, điều trị sớm ung thư phổi, nhằm làm kéo dài thời gian sống, giảm tỷ lệ tử vong, giảm gánh nặng kinh tế và nâng cao chất cuộc sống cho bệnh nhân

Tài liệu tham khảo.
 
1. IALC (Intemational assoclation for the study of lung cancer) Asia Pacific Lung Cancer Conference.May 2016 The Empress ConventionCenter,Chiang Mai, Thailand. 
 
2. Ref: Travis WD, Brambilla E, Nicholson AG, Yatabe Y, Austin JH, Beasley MB, Chirieac LR, Dacic S,Ishikawa Y, Kerr KM, Noguchi M, Pelosi G, Powell CA, Tsao M, Wistuba I. The 2015 World Health Organization Classification of Lung Tumors. Impact of Genetic, Clinical and Radiologic Advances since the 2004 Classification.J Thoracic Oncol 2015;10:1243-1260.
 
3. Newell JD Jr1, Fuld MK, Allmendinger T, Sieren JP, Chan KS, Guo J, Hoffman EA. Very low-dose (0.15 mGy) chest CT protocols using the COPDGene 2 test object and a third-generation dual-source CTscanner with corresponding third-generation iterative reconstruction software. Invest Radiol 2015 Jan;50(1).

10 hoạt động nổi bật trong tháng


Quảng cáo