Phát hiện sớm bệnh nhân đái tháo đường, giảm số lượng bệnh nhân chưa được chẩn đoán hiện nay (khoảng 3 triệu người)

Cập nhật lúc : 06/06/2016 10:11

BẢN MÔ TẢ GIẢI PHÁP DỰ THI

A- Chủ đề dự thi: “Phát hiện sớm bệnh nhân đái tháo đường, giảm số lượng bệnh nhân chưa được chẩn đoán hiện nay (khoảng 3 triệu người)”.

B- Nội dung kỹ thuật dự thi:

1. Đặt vấn đề

Có đến 80% bệnh nhân đái tháo đường đang sống tại các nước đang phát triển và thu nhập trung bình trong đó có Việt Nam. Năm 2011, số người bị đái tháo đường trên thế giới là 336 triệu người và dự báo đến năm 2030 là 552 triệu người, trong đó chủ yếu là đái tháo đường týp 2. Tỷ lệ đái tháo đường cũng khác nhau tại các Châu lục và các vùng lãnh thổ. Tại Mỹ (2012), có 29,1 triệu (9,3%) dân số mắc bệnh đái tháo đường, trong đó có 21,0 triệu người đã được chẩn đoán và 8,1 triệu người không được chẩn đoán tại cộng đồng. Có khoảng 50% số người mắc đái tháo đường trên thế giới không biết mình bị mắc bệnh đái tháo đường. Việt Nam là một trong những nước đang phát triển có tỷ lệ đái tháo đường, tiền đái tháo đường tăng rất nhanh. Năm (2012), tỷ lệ đái tháo đường 30-69 tuổi là 5,4%, tiền đái tháo đường là 13,68%. Như vậy sau 10 năm, từ 2002 đến 2012, tỷ lệ bệnh đái tháo đường tăng gấp đôi, 2,7% lên 5,4%, tiền đái tháo đường tăng gần gấp 2 lần từ 7,7% lên 13,68%. Số người mắc đái tháo đường trong cộng đồng không được phát hiện vẫn rất cao là 63,6%, năm 2002 là 64,5%. Tỷ lệ này ở các nước phát triển là 20-30%. Hiện có khoảng 16 triệu người Việt Nam hút thuốc, trong số nam giới uống rượu bia có 1/4 uống ở mức nguy hại, khoảng 2/3 số người dân ăn thiếu rau và trái cây và có tới gần 30% thiếu hoạt động thể lực. 
 
2. Các nguyên nhân chính làm gia tăng người mắc đái tháo đường tại Việt Nam
 
Người ta thường chia các nguy cơ của bệnh đái tháo đường thành 4 nhóm chính: di truyền, nhân khẩu học, hành vi lối sống và nhóm nguy cơ chuyển tiếp (các nhân tố trung gian).
 
Nhận thấy mối liên quan chặt chẽ giữa yếu tố nguy cơ với bệnh đái tháo đường tại Việt Nam bao gồm: Tuổi ≥ 45; Tăng huyết áp; Chỉ số khối cơ thể ≥ 23; Tăng vòng eo (Nam ≥ 90 cm; Nữ ≥ 80 cm); Tiền sử gia đình có người mắc bệnh đái tháo đường. Trong đó tuổi, tiền sử gia đình không thay đổi được, vậy chúng tôi tập chung vào thay đổi hành vi lối sống để làm giảm yếu tố nguy cơ.
 
2.1. Các yếu tố gen
 
Tại Việt Nam, người có tiền sử gia đinh có người mắc bệnh đái tháo đường có nguy cơ mắc đái tháo đường cao gấp 2,09 lần so với người không có tiền sử gia đinh có người mắc bệnh đái tháo đường. Yếu tố nguy cơ này không thay đổi được.
 
2.2. Các yếu tố nhân khẩu học ( tuổi, dân tộc)
 
Theo sắc tộc: tỷ lệ mắc đái tháo đường týp 2 ở người da vàng cao hơn người dân trắng từ 2-4 lần; tuổi mắc bệnh ở người da vàng trẻ hơn, thường trên 30 tuổi, người da trắng thường trên 50 tuổi. Yếu tố này không thay đổi được.
 
Theo độ tuổi: Tỷ lệ người cao tuổi Việt Nam sẽ đạt 10% vào năm 2017 và sẽ chính thức bước vào giai đoạn già hóa dân số, gây ra nhiều thách thức về các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, đặc biệt là bệnh đái tháo đường. Tại Việt Nam, người tuổi ≥ 45 có nguy cơ mắc ĐTĐ cao gấp 4,42 lần so với những người < 45 tuổi. Yếu tố này không thay đổi được.
 
2.3. Các yếu tố hành vi, lối sống
 
Ít vận động thể lực. Nhiều nghiên cứu cho thấy tầm quan trọng của việc không hoạt động thể lực trong việc hình thành tiền đái tháo đường týp 2, lối sống tĩnh tại đã kéo theo sự gia tăng tương ứng tỷ lệ béo phì. Không hoạt động là nguyên nhân chính của bệnh tim mạch, bệnh mạch vành và tử vong, người không hoạt động thể lực có khả năng dễ phát triển bệnh tim gấp đôi những người có nhiều hoạt động. Yếu tố này thay đổi được .
 
Chế độ ăn. Số lượng lẫn chất lượng của chất béo đều ảnh hưởng đến chuyển hóa glucose và sự nhạy cảm insulin. Sự sản xuất insulin được kích thích liên tục bởi chế độ ăn nhiều carbohydrate và sẽ dẫn đến làm giảm khả năng tiết insulin gây ra đái tháo đường týp 2 khởi phát sớm. Mức độ thiêu thụ dầu, mỡ tăng nhanh từ 12 g mỗi người trên ngày vào năm 1985 thì đã tăng lên 24,9 g vào năm 2000 và tăng vọt lên 37.7 g vào năm 2010 cao hơn rất nhiêu các nước. Yếu tố này thay đổi được.
 
Rượu bia. Lượng lớn alcohol tiêu thụ làm giảm hấp thụ glucose qua trung gian insulin và rối loạn dung nạp glucose, có lẽ do tác dụng độc của rượu trực tiếp lên tế bào đảo tụy hay ức chế sự tiết insulin và tăng đề kháng insulin. Hơn nữa, dùng nhiều alcohol làm tăng chỉ số khối cơ thể và nguy cơ khác của đái tháo đường trong khi uống rượu ít hoặc vừa làm giảm các nguy cơ này. Yếu tố này thay đổi được.
Thuốc lá: Hút thuốc lá có liên hệ đến sự đề kháng insulin, là yếu tố nguy cơ của đái tháo đường týp 2 ở cả nam lẫn nữ. Nghiên cứu cho rằng hút thuốc lá tăng 70% nguy cơ của đái tháo đường týp 2. Yếu tố này thay đổi được.
 
2.4. Các yếu tố chuyển hoá và các loại nguy cơ trung gian
 
Thừa cân (BMI  23 đối với người châu Á), béo dạng nam (vòng eo  90 cm đối với nam; hoặc vòng eo  80 cm đối với nữ, WHR cao). 
 
Vòng eo: Những người có vòng eo lớn có nguy cơ mắc đái tháo đường cao hơn những người có vòng eo bình thường là 2,6 lần. Yếu tố này thay đổi được.
 
Béo phì: Béo phì là một đặc điểm thường đi kèm trong đái tháo đường týp 2 và là một yếu tố nguy cơ của tiền đái tháo đường týp 2. Tại Việt Nam, những người có chỉ số khối cơ thể BMI ≥ 23 có nguy cơ mắc đái tháo đường cao hơn 2,01 lần so với bình thường, những người có BMI >25 có nguy cơ mắc ĐTĐ týp 2 nhiều hơn gấp 3,74 lần so với người bình thường. Yếu tố này thay đổi được.
 
Tăng huyết áp. là một trong những yếu tố nguy cơ gây bệnh đái tháo đường týp 2. Khoảng 2/3 người bệnh đái tháo đường có tăng huyết áp. Những người tăng huyết áp có nguy cơ mắc đái tháo đường gấp 3,45 lần so với bình thường. Yếu tố này thay đổi được.
 
Rối loạn lipid máu: Sự gia tăng acid béo tự do huyết tương đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển đái tháo đường týp 2 thông qua cơ chế gây kháng insulin. Đái tháo đường týp 2 phát triển bởi vì tế bào tụy không tiết đủ insulin để bù cho tình trạng kháng insulin càng ngày càng tiến triển. Có sự liên quan chặt chẽ giữa rối loạn lipid máu và đái tháo đường týp 2. 
 
Mức mỡ nội tạng cao, có nguy cơ mắc đái tháo đường gấp 3,4 lần so với bình thường. Yếu tố này thay đổi được.
 
Phụ nữ có tiền sử đái tháo đường thai nghén, hoặc tiền sử sinh con to ( 4000g). Sự phát triển của thai nhi. Người có rối loạn đường huyết lúc đói, hoặc rối loạn dung nạp glucose. Đây là nhóm người có glucose trong máu cao hơn trong giới hạn bình thường nhưng chưa đủ tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh đái tháo đường. Yếu tố này không thay đổi được.
 
3. Một số khía cạnh tác động đến khả năng phát hiện sớm đái tháo đường
 
Luật, chính sách thực thi: Nếu đưa bệnh đái tháo đường, tiền đái tháo đường và quản lý yếu tố nguy cơ bệnh không lây nhiễm vào khung luật bắt buộc trong khám, kiểm tra sức khỏe định kỳ và được bảo hiểm y tế chi trả sẽ tác động rất lớn đến khả năng phát hiện sớm bệnh đái tháo đường, khuyến cáo nguy cơ và quản lý được bệnh nhân.
 
Bảo hiểm Y tế: hiện nay bảo hiểm y tế toàn dân dưới 80%, và chính phủ chưa đưa test nhanh sàng lọc đái tháo đường; tư vấn phòng và chữa bệnh đái tháo đường, tăng huyết áp vào diện được hưởng bảo hiểm y tế cho người dân. Bao phủ bảo hiểm y tế còn thấp ảnh hưởng không nhỏ đến hành vi đi khám sức khỏe, khả năng chi trả và khả năng tiếp cận các dịch vụ khám chữa bệnh, phát hiện sớm các yếu tố nguy cơ.
 
Internet: hiện nay có khoảng 36% (34 triệu) người Việt Nam sử dụng internet; trong kênh tiếp cận thông tin qua Internet đang ngày càng được sử dụng nhiều hơn các kênh truyền thống khác. 81% số người sử dụng đã dùng Internet hằng ngày, với tổng số giờ truy cập Internet lên tới 5,6 giờ/ngày, 6,4 ngày/tuần. Tỷ lệ sử dụng từ 25-64 tuổi là 62%, từ 35-64 tuổi là 26%. Như vậy, tổng số thời gian họ tiếp cận Internet lên tới 36 giờ/tuần. Trong khi đó, tần suất sử dụng tivi chỉ khoảng 5,2 ngày/tuần, tổng số thời gian xem tivi chỉ 14 giờ/tuần. Số giờ đọc báo của người Việt Nam đã thấp hơn, chỉ có 36% người dân đọc báo, tạp chí hằng ngày, trung bình mỗi ngày dành khoảng 1,5 giờ đọc báo, tạp chí. Trung bình họ chỉ đọc khoảng 4,1 ngày/tuần. Tổng thời gian đọc báo, tạp chí khoảng 6 giờ/tuần.
 
Khám sức khỏe định kỳ: tỷ lệ khám sức khỏe định kỳ của người dân rất thấp, doanh nghiệp thì cho công nhân khám định kỳ một tỷ lệ đối phó với các cơ quan chức năng, cán bộ công chức viên chức thì khám sức khỏe định kỳ thường xuyên theo quy định.
 
Truyền thông tại địa phương: tác động mạnh đến nông dân, công nhân những người ở nhà, đối tượng này mặc dù có bảo hiểm y tế nhưng chưa thật sự được quan tâm, trình độ thấp, và tâm lý chưa thật sự lo lắng quan tâm đến sức khỏe do thói quen ngại đến cơ sở y tế, chỉ thực sự đến khi có bệnh, một phần do chất lượng dịch vụ y tế công có nhiều hạn chế chưa làm hài lòng người dân.
 
4. Đề xuất giải pháp tăng phát hiện sớm, giảm số lượng người mắc bệnh.
 
Muốn phát hiện sớm, giảm số lượng bệnh nhân chưa được chẩn đoán hiện nay thì bắt buộc chúng ta phải tích cực thay đổi lối sống và quản lý theo dõi được yếu tố nguy cơ, cách hiệu quả nhất là truyền thông vào đối tượng đích.
 
Dựa trên những bằng chứng khoa học, chúng tôi đề xuất 2 nhóm giải pháp chính, cũng là nhóm giải pháp trong dự phòng cấp 1 và cấp 2 nhằm làm giảm số lượng mắc ĐTĐ.
 
• Nhóm giải pháp phát hiện sớm và làm giảm gánh nặng do đái tháo đường thông qua sàng lọc chủ động
 
Nhóm giải pháp sàng lọc chủ động: Truyền thông nguy cơ cho người dân là cách làm có hiệu quả nhất hiện nay để khuyến cáo người dân nếu có một trong các yếu tố nguy cơ thì có thể tự chủ động tới cơ sở y tế để xét nghiệm máu chẩn đoán đái tháo đường, đặc biệt là những nhóm nguy cơ cao: như gia đình có tiền sử ĐTĐ, phụ nữ có thai ...
 
Khuyến cáo người dân (ở đây là nông dân, công nhân và những người ở nhà là đối tượng chính, còn cán bộ công chức thì đã được khám và kiểm tra định kỳ hàng năm 2 lần theo luật quy đinh) có nguy cơ mắc đái tháo đường, tăng huyết áp nên kiểm soát bằng cách khám và kiểm tra sức khỏe định kỳ hàng năm, nếu có đường máu hơi cao nhưng chưa đến mức chẩn đoán đái tháo đường thì tối thiểu 3 tháng nên khám và làm xét nghiệm máu 1 lần, những người có vòng bụng to ≥90cm đối với nam, ≥80cm đối với nữ thì nên thường xuyên kiểm tra mỡ máu, xét nghiệm khoảng 3-6 tháng 1 lần tại cơ sở y tế.
 
• Nhóm giải pháp làm giảm tỷ lệ mắc đái tháo đường thông qua thay đổi hành vi
 
Điều chỉnh lối sống hợp lý: tăng cường truyền thông về kiến thức, sự hiểu biết và nguy cơ từ bệnh đái tháo đường, tăng huyết áp.
 
Giảm cân nặng nếu thừa cân: chế độ giảm cân cần đặc biệt nhấn mạnh ở những người béo bụng, thừa cân báo phì, cần tập trung vào nhóm người trên 45 tuổi, bởi những người >45 tuổi có nguy cơ cao mắc đái tháo đường gấp 4,42 lần so với người dưới tuổi.
 
Hạn chế rượu bia, bỏ thuốc lá: bởi vì rượu bia quá nhiều, hút thuốc lá thường xuyên sẽ làm tăng nguy cơ tim mạch, tai biến, đề kháng insulin và làm giảm khả năng tình dục ở nam giới (rối loạn cương dương), gây ra những biến chứng nặng nề, những người tăng huyết áp thường có nguy cơ cao mắc đái tháo đường và ngược lại. Khuyên bệnh nhân nên ăn nhạt để hạn chế nguy cơ gia tăng huyết áp. có thể uống khoảng 2 cốc bia 1 ngày đối với nam, 1 cốc đối với nữ.
 
Tăng cường luyện tập thể dục: Luyện tập thể dục thường xuyên có thể giảm cân nặng, tăng cường sức khỏe, giảm huyết áp, giảm đường máu, và tăng tính nhạy cảm insulin làm giảm đường máu giảm nguy cơ mắc đái tháo đường. Ở những người đường máu hơi cao trong cộng đồng mà chưa đến mức chẩn đoán đái tháo đường, nếu luyện tập thể dục thường xuyên và có chế độ ăn hợp lý có thế làm giảm đường huyết trở về bình thường mà không cần điều trị dùng thuốc. Khuyến cáo nên tập 30-45 phút đều đặn mỗi ngày.
 
Chế độ ăn: tăng cường ăn các loại rau xanh và hoa quả tươi ít ngọt trong chế độ ăn hàng ngày; hạn chế ăn các loại thức ăn có chứa nhiều hàm lượng mỡ từ động vật giàu cholesterol như thịt nhiều mỡ, nội tạng...và thay vào đó bằng các loại dầu thực vật.
 
Để thực hiện các giải pháp trên, chúng tôi đề xuất các hoạt động dự kiến, chủ yếu thông qua sự phối hợp của các ban ngành với ngành y tế và truyền thông bằng nhiều hình thức khác nhau
 
• Truyền thông:
 
Xây dựng các câu lạc bộ người cao tuổi hoặc hội phụ nữ, Đoàn thanh niên từ đó tác động từ truyền thông tư vấn, hỗ trợ kiến thức, xét nghiệm máu và nhân rộng mô hình trong cộng đồng; hơn nữa đối tượng này có kiến thức tốt sẽ tác động bản thân, đến gia đình, những người xung quanh họ và cũng sẽ tác động lên cộng đồng làm thay đổi nhận thức, hiểu biết của người dân về bệnh đái tháo đường.
 
Xây dựng các trang truyền thông Internet. Hiện nay tỷ lệ sử dụng internet của người dân tại rất cao và thường xuyên nên chúng tôi khuyến nghị nên xây dựng một trang web chính thống do Hội nội tiết đái tháo đường Việt Nam quản lý, với những nội dung chính như đưa ra một folm công cụ đánh giá yếu tố nguy cơ mắc đái tháo đường, người dùng chỉ việc tích vào, nếu số điểm có cao hoặc có nguy cơ thì sẽ có khuyến cáo người dân nên đi xét nghiệm máu để tầm soát đái tháo đường, nếu có yếu tố nguy cơ thì khuyến cáo là điều chỉnh lối sống cụ thể và dễ hiểu ngay trên trang web và một số bài viết giúp tư vấn cho người dân khi đã bị ĐTĐ
 
• Nghiên cứu và đánh giá: Đưa ra bộ công cụ đánh giá yếu tố nguy cơ mắc đái tháo đường dành cho người Việt Nam, phổ biến đến người dân đến tại trạm y tế sẽ được các y bác sỹ hướng dẫn điền vào phiếu đánh giá nguy cơ, nếu thấy có nguy cơ thì khuyên họ tự chủ động đi xét nghiệm máu vào ngày gần nhất để phát hiện sớm bệnh đái tháo đường. Bên cạnh đó, cần tập huấn kỹ cho cán bộ y tế cơ sở, là tuyến y tế gần dân nhất, để thực hiện chức năng tư vấn, phát hiện sớm người có đái tháo đường tại cộng đồng, người có yếu tố nguy cơ.
 
• Tác động xây dựng chương trình sàng lọc cộng đồng : Nên đưa luật bắt buộc khám sức khỏe định kỳ cho người dân tối thiểu một năm 2 lần, đối với doanh nghiệp thì tất cả công nhân bắt buộc phải khám và được khám xét nghiệm tùy theo mức độ độc hại của việc làm, như vậy chúng ta sẽ phát hiện sớm được bệnh đái tháo đường ở nhóm đối tượng là nông dân, công nhân này, tỷ lệ người dân trong nhóm này là khá cao, những người có yếu tố nguy cơ, những người tiền đái tháo đường, đái tháo đường sẽ được hướng dẫn về các trạm y tế để quản lý và tư vấn kỹ hơn về hành vi lối sống, được tư vấn xét nghiệm định kỳ và điều trị khi mắc bệnh, hiện nay Bộ Y tế đã đưa chương trình phòng chống bệnh không lây nhiễm vào chuẩn quản lý của trạm y tế, nhưng quản lý tại trạm về bệnh này hầu như chưa được thực thi, khuyến nghị nên đưa vào luật bắt buộc những người dân tới khám ban đầu tại trạm y tế được tư vấn và phân loại nguy cơ mắc đái tháo đường, từ đó khuyến cáo đến người dân.
 
Một số thông tin cá nhân:
Họ và tên: Đỗ Ích Thành
Khoa: Kiểm soát bệnh không lây nhiễm và dinh dưỡng
Đơn vị công tác: Trung tâm Y tế Dự phòng thành phố Đà Nẵng
 
 

PHÁT HIỆN SỚM BỆNH NHÂN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG, GIẢM SỐ LƯỢNG BỆNH NHÂN CHƯA ĐƯỢC CHẨN ĐOÁN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG

Cập nhật lúc : 07/06/2016 09:07

Họ và tên: LÊ XUÂN ĐẠI
Đơn vị: Trường Cao đẳng Y tế Quảng Ninh
Chức vụ: Giảng viên
 
PHÁT HIỆN SỚM BỆNH NHÂN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG, 
GIẢM SỐ LƯỢNG BỆNH NHÂN CHƯA ĐƯỢC CHẨN ĐOÁN

A. VẤN ĐỀ THẢO LUẬN VÀ THỰC TRẠNG:

Bệnh đái tháo đường (ĐTĐ) hiện nay được công nhận là bệnh "đại dịch" của thế kỷ 21 ảnh hưởng đến hàng triệu người trên toàn thế giới. Theo thống kê của Hiệp hội đái tháo đường quốc tế (IDF) năm 2015[2] : trên thế giới hiện nay có sấp xỉ 415 triệu người trong độ tuổi 20-79 mắc ĐTĐ trên toàn thế giới, trong đó có 193 triệu người chưa được chẩn đoán. Hơn 318 triệu người lớn ước tính có dung nạp glucose, đặt họ vào nguy cơ cao phát triển dịch bệnh.
 
Nếu mức tăng này không dừng lại dự đoán tới năm 2040 sẽ có gần 642 triệu người sống chung với bệnh tật. Đáng chú ý, chi phí y tế tiếp tục tăng 12% chi phí y tế toàn cầu dành riêng cho điều trị bệnh ĐTĐ trong đó chiếm đa số là liên quan tới điều trị các biến chứng.[2].
 
Tỷ lệ người mắc bệnh đái tháo đường ở Việt Nam đang có chiều hướng gia tăng nhanh chóng ở khắp mọi miền cả nước và tạo ra gánh nặng kinh tế cho gia đình, xã hội trong quá trình điều trị căn bệnh này.
 
Theo thống kê trong 10 năm qua, số bệnh nhân mắc bệnh đái tháo đường ở nước ta tăng 211%, Việt Nam nằm trong số quốc gia có tốc độ tăng bệnh nhân đái tháo đường cao nhất thế giới. Nghiên cứu tại các địa phương cho thấy, toàn quốc hiện có khoảng 5 triệu bệnh nhân đái tháo đường, điều đáng nói là cứ 10 ca đái tháo đường thì có 6 ca được chẩn đoán là có biến chứng cực kỳ nguy hiểm, có thể dẫn tới mù lòa, tàn phế, thậm chí là tử vong.
 
Bệnh đái tháo đường không được điều trị hoặc điều trị kém làm tăng nguy cơ gặp các biến chứng nghiêm trọng. Theo các chuyên gia y tế, chính thói quen sinh hoạt không khoa học đã và đang làm tăng số lượng người thừa cân, béo phì, kéo theo gánh nặng bệnh đái tháo đường ở Việt Nam cũng như trên phạm vi toàn cầu. Và ở Việt Nam, "mới chỉ có 33,4% bệnh nhân đái tháo đường được chẩn đoán, nhưng 56,3% bệnh nhân được chẩn đoán lại chưa được điều trị, đồng thời tỉ lệ bệnh tăng nhanh 5,5%", PGS.TS Nguyễn Thy Khuê, Chủ tịch Hội Nội tiếtvà Đái tháo đường Việt Nam.
 
Đại sứ Đan Mạch John Nielsen cũng bày tỏ sự ủng hộ đối với các sáng kiến nhằm phòng và điều trị bệnh đái tháo đường: “Việt Nam là một trong những quốc gia có tỷ lệ gia tăng đái tháo đường cao nhất thế giới. Căn bệnh này đã và đang ảnh hưởng tới mọi nhóm người và mọi lứa tuổi trong xã hội. Chúng tôi đánh giá cao vai trò chủ động của Bộ Y tế trong việc phòng và điều trị bệnh đái tháo đường – một vấn đề y tế nghiêm trọng ở Việt Nam”.
 
ĐTĐ là bệnh mạn tính nên người bệnh ĐTĐ phải điều trị mỗi ngày trong suốt cuộc sống của họ. Việc tuân thủ chế độ điều trị của NB có ý nghĩa sống còn tới kết quả điều trị. Nếu họ không thể tiếp tục tuân thủ điều trị, hậu quả chính sẽ giảm kiểm soát đường huyết, dẫn đến các biến chứng của bệnh ĐTĐ, bao gồm cả vi mạch máu và bệnh mạch máu lớn và thay đổi chuyển hóa lipid, các biến chứng nghiêm trọng như tổn thương mắt, thận, thần kinh, loét chân dẫn đến cắt cụt chi, nhiễm trùng, vv. Các nghiên cứu cho thấy tỷ lệ NB không tuân thủ khuyến cáo điều trị của bác sĩ ngày một tăng lên đáng kể. Hậu quả là tăng đường huyết dẫn đến biến chứng gia tăng và tử vong sớm, chi phí dịch vụ y tế tăng lên điều này không chỉ ảnh hưởng trực tiếp tới NB mà còn trở thành gánh nặng cho gia đình và xã hội.[1]
 
Theo IDF, ngày nay có 80-90% ĐTĐ2 chưa được chưa được chẩn đoán tại cộng đồng tại các nước có thu nhập thấp và trung bình. Tỷ lệ này là 30% ở các nước phát triển. Dự đoán rằng tỷ lệ IGT 280 triệu (6.1% )- năm 2012 và 398 triệu (7.2%)- năm 2030. Việt Nam nghiên cứu BVNTTW 75% ĐTĐ2 chưa được chẩn đoán tại cộng đồng. Tỷ lệ tiền ĐTĐ là 10% 
 
B. NGUYÊN NHÂN CHÍNH BỆNH NHÂN CHƯA ĐƯỢC PHÁT HIỆN SỚM BỆNH ĐÁI THÁO ĐƯỜNG Ở VIỆT NAM:
 
- Cơ cấu tổ chức: Qua các báo cáo về thực trạng cán bộ Y tế cơ sở chủ yếu là kiêm nghiệm chưa có cán bộ chuyên trách, họ đều là cán bộ làm việc tại các trung tâm Y tế, hoặc dựa vào các hội có tại các cơ sở, làm việc thời vụ như Hội phụ nữ, người cao tuổi, chuyên môn không có nhiều, trách nhiệm chưa cao. Các cán bộ Y tế tại địa phương chủ yếu là cán bộ kiêm nghiệm, chưa có cán bộ chuyên trách. 
 
- Tính chất của bênh: Điển hình bệnh đái tháo đường tuýp 2 khởi phát âm thầm, không dừng lại, bởi vậy, các bệnh nhân khi phát hiện ra mình mắc bệnh ĐTĐ thì hầu hết đã mắc bệnh từ 5-15 năm trước. Thế giới cũng đưa ra nhận định: số bệnh nhân mắc bệnh ĐTĐ được phát hiện và số mắc không được phát hiện theo tỷ lệ 50-50 - nghĩa là, khi một người đã được phát hiện mắc ĐTĐ cũng đồng thời còn một người khác chưa biết mình đang mắc bệnh. Theo thống kê, hiện nay, 2,7% dân số Việt Nam mắc bệnh ĐTĐ. Tại các thành phố lớn, tỷ lệ này lên đến 4,4 % và chiếm 90% trường hợp là bệnh nhân bị ĐTĐ tuýp 2.
 
- Biểu hiện điển hình của bệnh nhân mắc bệnh đái tháo đường:
 
Khát nước, tiểu nhiều, nước tiểu ngọt kiến bâu, sụt cân nhanh... Một khi người bệnh đã có các biểu hiện nói trên thì bệnh đã ở giai đoạn muộn. Thực tế cho thấy, trong cộng đồng đã hiểu và lo ngại về ĐTĐ, nhưng còn chưa biết làm thế nào để chữa và làm sao phát hiện sớm bệnh này.
 
- Cho đến nay Việt Nam chưa xây dựng bảng điểmYTNC cho người Việt Nam nên việc sàng lọc gặp nhiều khó khăn. Theo ước tính chi phí cho một trường hợp sàng lọc xấp xỉ là 45.000 đồng/ trường hợp. Việc sàng lọc ở nước ta hiện vẫn còn thụ động. Truyền thông thay đổi hành vi nâng cao nhận thức nguy hại của ĐTĐ vẫn còn nhiều thách thức.
 
- Kiến thức về bệnh ĐTĐ: gồm kiếm thức cần thiết về bệnh ĐTĐ, kiến thức về tuân thủ điều trị, phòng ngừa các biến chứng… Không phải tất người bệnh đều có hiểu biết đầy đủ về bệnh ĐTĐ, cũng không phải cứ trình độ học vấn cao hơn thì có hiểu biết hơn. Việc thiếu kiến thức hoặc hiểu sai, hiểu không đầy đủ làm cho việc tuân thủ của người bệnh giảm đồng nghĩa với giảm hiệu quả điều trị. Điều này đòi hỏi trách nhiệm ở những người cung cấp dịch vụ y tế cần tư vấn, giáo dục sức khỏe cho người bệnh hiểu đúng, hiểu đủ về bệnh ĐTĐ. Nhất là hiện nay sự phát triển của công nghệ thông tin và truyền thông ngoài ảnh hưởng tích cực cũng gây ra mặt trái làm người bệnh có những thông tin sai lệch.
 
- Dịch vụ y tế bao gồm chất lượng mối quan hệ giữa nhân viên y tế và người bệnh, thái độ giao tiếp ứng xử, chất lượng của tư vấn giáo dục sức khỏe, sự kết nối liên lạc thường xuyên, sự tiện lợi nhanh chóng, chính xác của các dịch vụ y tế, thời gian chờ đợi để khám, lấy kết quả … những điều này ảnh hưởng tới tâm lý, sự hài lòng, niềm tin của người bệnh. Khi sự hài lòng và niềm tin của người bệnh tăng lên đồng nghĩa với tăng mức độ tuân thủ. Vì vậy nâng cao chất lượng dịch vụ y tế cần được quan tâm hang đầu.
 
- Hỗ trợ xã hội: người mắc ĐTĐ muốn quản lý tình trạng bệnh của mình được tốt ngoài việc tự nỗ lực cần phải có sự hỗ trợ không hề nhỏ của gia đình, bạn bè, những người xung quanh không chỉ về tài chính mà còn về sự động viên chia sẻ, nhắc nhở việc tuân thủ điều trị thậm chí chấp nhận sự thay đổi về môi trường, điều kiện sống cho phù hợp với người bệnh. 
 
- Ngoài ra vấn đề tôn giáo, tín ngưỡng rồi sự xuất hiện tràn lan các thuốc Đông y không rõ nguồn gốc, xuất xứ chưa qua kiểm định cũng là những rào cản tới tuân thủ điều trị.Hài lòng về điều trị có thể thấp hơn nhiều ở các bệnh nhân có hạ đường huyết so với các bệnh nhân không bị hạ đường huyết. Có một sự tách biệt đáng kể giữa những gì các nhân viên y tế khuyến cáo và các điều bệnh nhân nghe được 
 
Việc trao đổi thông tin giữa các nhà lâm sàng-bệnh nhân thường chưa đầy đủ.Tuân thủ kém với điều trị liên quan đến việc bệnh nhân muốn đến thăm khám bác sĩ nhiều hơn chế độ ăn và hướng dẫn. Tôi không biết tôi có thể ăn gì và không nên ăn gì” 
 
Bệnh nhân ĐTĐ cần hướng dẫn từ nhóm các nhân viên y tế từ các chuyên khoa khác nhau 
 
B. GIẢI PHÁP THỰC HIỆN PHÁT HIỆN SỚM BN TIỂU ĐƯỜNG:
 
Có rất nhiều giải pháp có thể đưa ra để phát hiện sớm, giảm số lượng bệnh nhân Đái tháo đường. Bản thân đã tham gia học tập, công tác ở cộng đồng qua một số đề tài, chương trình tình nguyện. Qua đó, tôi cho rằng đối với việc phát hiện sớm BN ĐTĐ để phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của Việt Nam hiện nay, tôi xin tập trung đưa ra giải pháp cụ thể như sau và tập trung chủ yếu thành lập nhóm chăm sóc/TNV cộng đồng.
 
1. Cách thức tổ chức:
 
- Hoàn thiện cơ cấu tổ chức mạng lưới y tế cộng đồng: Hiện tại cán bộ y tế tại các địa phương chưa hoạt động hiệu quả, mặc dù khả năng tiếp cận với người dân rất tốt, họ là người bản địa, tuy nhiên do trình độ chuyên môn chưa đào tạo bài bản, một số vùng còn thiếu nhân lực, khâu tuyên truyền chủ yếu dựa vào cán bộ Hội phụ nữ, Hội người cao tuổi…. Để đảm bảo công tác phòng chống bệnh tật, cần tập trung xây dựng lực lượng chủ yếu là đội ngũ cán bộ y tế cộng đồng. 
 
- Phát triển mô hình nhóm chăm sóc, hoặc Nhóm Tình nguyện vì cộng đồng. Ở các nước trên thế giới mô hình này phát triển rất mạnh mẽ, hiệu quả tốt.Xây dựng công văn cụ thể gửi các bệnh viện các tuyến từ Tỉnh đến cơ sở huy động nguồn nhân lực, tận dụng đối tượng đang công tác tại các đơn vị này, đặc biệt là tầng lớp trẻ, yêu cầu tạo điều kiện cho họ hoạt động với lý do:
 
+ Chuyên môn họ đã có, việc đào tạo mất ít thời gian, hiệu quả cao.
 
+ Tiết kiệm được nguồn ngân sách của Nhà nước. Họ là tương lai của đất nước, có sức khỏe, trí tuệ, tiếp cận được những tiến bộ kỹ thuật mới nhạy bén.
 
+ Tinh thần vì cộng đồng, nhiệt huyết cao, sẵn sàng xông pha.
 
+ Vì là công tác trong các đơn vị công, luôn được người dân tin tưởng, đặc biệt là đồng bào vùng nông thôn, vùng cao.
 
+ Mô hình nhóm chăm sóc, TNV này được phát triển ở các nước Phương Tây, Việt Nam chưa được phát triển mạnh mẽ, hoặc nhỏ lẻ, chưa được cấp phép, hoạt động manh mún, hiệu quả không cao.
 
- Xây dựng bảng sàng lọc YTNC Cho NB tiểu đường cụ thể, đánh giá thường xuyên
 
- Nhóm chăm sóc, nhóm TNV này nhất thiết phải có Bác sĩ chuyên môn, điều dưỡng, KTV xét nghiệm đã có chứng chỉ hành nghề theo quy định, có thể gia nhập thêm các tình nguyện viên là sinh viên, các cán bộ y tế hiện có ở cơ sở để nhân rộng mô hình, khuyến khích các tình nguyện của địa phương để họ tự nhận thức được và cán bộ ngay từ địa phương họ có thể thực hiện sau này. Cấp phép cho các tổ chức này
 
- Áp dụng một số mô hình tiên tiến hiệu quả của Thế giới về nhóm chăm sóc. Bên cạnh đó, có thể huy động đội ngũ TNV từ các trường Đại học Y dược trên địa bàn.
 
Nhóm” Chăm sóc Đái tháo đường” 
 
Nhóm chăm sóc đái tháo đường có thể bao gồm :Bác sĩ điều trị, Điều dưỡng,Trợ lý bác sĩ, Chuyên gia dinh dưỡng. 
 
Nhóm chăm sóc đái tháo đường 
 
1. American Diabetes Association. Diabetes Care. 2009;32(Suppl.1):S13-61. 2. Armour TA, et al. Diabet Med. 2005;22:1295-305. 
 
Nhóm chăm sóc đái tháo đường có thể bao gồm:Dược sĩ, Các nhà chuyên môn về sức khỏe tâm lý trong lĩnh vực Đái tháo đường.
 
- Cần phải xác định bệnh nhân đái tháo đường và gia đình đóng vai trò trung tâm trong nhóm chăm sóc đái tháo đường.
 
- Đề nghị các cấp bộ ngành Y tế vào cuộc, đặc biệt là vào cuộc trực tiếp của cán bộ Y tế cơ sở trong việc phát hiện sớm bệnh nhân Đái tháo đường. Các nhà xây dựng chính sách có thể đề xuất chính sách dành riêng cho nhóm chăm sóc/TNV hoạt động
 
- Giải quyết dứt điểm các tình trạng các tổ chức, nhóm người kinh doanh, dựa vào lòng tin của nhân dân để mua bán kiếm lợi nhuận. Nên tạo dần tâm lý cho người bệnh biết tầm quan trọng của việc quản lý sức khỏe của mình hơn là những món quà, tiền hỗ trợ từ dự án. Đây cũng là điều khuyến cáo của tổ chức nước ngoài trong khi làm việc về vấn đề can thiệp, nghiên cứu tại cộng đồng.
 
- Xây dựng khung chương trình đào tạo cụ thể cho nhóm chăm sóc, phát hiện tại cộng đồng, kỹ năng hoạt động cộng đồng
 
- Nhóm chăm sóc/TNV vừa tham gia phát hiện sớm bệnh nhân ĐTĐ vừa tổ chức đào tạo cán bộ tại địa phương để duy trì các hoạt động về sau. Nhóm chăm sóc/TNV phải đi vào đời sống của các đối tượng có nguy cơ cao/ Phải gọi là “ Nằm vùng” để vừa phát hiện sớm,vừa can thiệp ngay tại gia đình bệnh nhân đặc biệt là theo dõi và điều trị, can thiệp dinh dưỡng cho bệnh nhân.
 
- Tổ chức các buổi truyền phải dễ hiểu, ngắn gọn về bệnh, cách phát hiện bệnh, thay đổi về chế độ dinh dưỡng cho cả những bệnh nhân đã phát hiện điều trị bệnh và cả đối tượng nguy cơ cao. Theo dõi trực tiếp cả về bữa ăn, chế độ dinh dưỡng tại nhà của bệnh nhân để can thiệp từng trường hợp cụ thể.
 
- Cung cấp các phương tiện máy móc chẩn đoán ĐTĐ cho nhóm chăm sóc/TNV và sau đó cung cấp lại cho đơn vị Y tế cơ sở để họ tiếp tục duy trì và kiểm soát hoạt động.
 
- Có thể sắp xếp văn phòng Đại diện thường trực để khám, phát hiện sớm BN Đái tháo đường tại đơn vị cụ thể ví dụ trạm Y tế Phường, xã…
 
- Bệnh nhân đái tháo đường và gia đình đóng vai trò trung tâm trong nhóm chăm sóc đái tháo đường
 
2. Đào tạo:
- Xây dựng khung chương trình đào tạo cụ thể, tài liệu dựa chuẩn Quốc tế về Đái tháo đường. Những năm gần đây, các chương trình giáo dục chuyển từ mô phạm sang các chương trình có định hướng giúp các bệnh nhân thực hiện dễ dàng hơn.Cách tiếp cận này cần sự hiểu biết của bệnh nhân ĐTĐ trong việc tự đánh giá tình trạng sức khỏe, và khả năng. Giáo dục bệnh nhân là một thành phần quan trọng trong việc tự chăm sóc của bệnh nhân
 
-Tập trung nội dung
 
+ Chiến lược giáo dục tập trung vào bài giảng
 
+ Nhân viên y tế là người xác định mục tiêu
 
+ Bệnh nhân ĐTĐ thay đổi lối sống để đáp ứng theo hướng dẫn của cán bộ y tế
 
+ Bệnh ĐTĐ có thể tự kiểm soát, vì vậy, giáo dục bệnh nhân là một thành phần quan trọng của việc tự chăm sóc 
 
-Xây dựng mô hình giáo dục bệnh nhân 
 
Bước 1: Xác định những người có thể có nguy cơ cao 
 
Bước 2: Xác đinh YTNC, test glucose máu, OGTT 
 
Bước 3: Can thiệp để ngăn chặn sự phát triển của tiền ĐTĐ. Mỗi đơn vị thực hiện DA sẽ có phòng tư vấn, hàng tháng tiền ĐTĐ sẽ được kiểm tra Glucose máu, BMI... Tư vấn và dinh dưỡng và hoạt động thể lực
 
Bước 4: Biểu ghi chép theo dõi tỷ lệ BT, Tiến triển ĐTĐ, không thay đổi, tử vong.
 
- Cần trang bị kĩ năng giao tiếp, kỹ năng trao đổi thông tin với bệnh nhân cho các cán bộ y tế, nhóm chăm sóc/TNV.
 
- Đào tạo kỹ năng sử dụng các trang thiết bị, máy móc để chẩn đoán bệnh nhân tiểu đường.

3. Nội dung hoạt động:

- Lồng ghép hai hoạt động song song phát hiện tại cộng đồng, đào tạo nhóm tại cộng đồng, chuyển giao kỹ thuật cho đội ngũ sau này tại địa phương.
 
- Xác định đối tượng có nguy cơ cao trên địa bàn công tác.
 
- Hoạt động Đội TNV, liên tục, bám sát địa bàn: Xét nghiệm, chẩn đoán cho NB tại nhà, can thiệp ngay tại chế độ ăn uống, vận động, theo dõi cho NB định kỳ.
 
- Nếu có dự án hỗ trợ có thể cung cấp máy Đo đường huyết tại nhà cho BN, nhóm BN và hướng dẫn cách sử dụng.
 
- Để phát hiện sớm bệnh đái tháo đường và phòng ngừa các biến chứng :Vừa phát hiện tại cộng đồng vừa giới thiệu bệnh nhân đến các trung tâm khám chuyên khoa để được khám và đánh giá chính xác mức độ tình trạng bệnh và hướng dẫn cách tự theo dõi và điều trị để ổn định đường huyết và phòng ngừa các biến chứng.
 
- Tuyên truyền cho bệnh nhân hiểu về Đái tháo đường
 
+ Tiêu chuẩn về giáo dục bệnh ĐTĐ nên bao gồm,Bệnh nhân sẽ hiểu về : 
 
Bệnh Đái tháo đường 
 
Các chế độ điều trị 
 
Kiểm soát về hành vi, tâm lý và lâm sàng của ĐTĐ 
 
Duy trì lối sống lành mạnh để làm giảm nguy cơ của các biến chứng do ĐTĐ 
 
International Standards for Diabetes Education. IDF. Available at: http://www.idf.org/webdata/docs/INTNLSTANDARDS-EN.pdf. Accessed: 19 Nov, 2010. 
 
+ Tiêu chuẩn quốc tế về giáo dục Đái tháo đường: Khuyến cáo của IDF (1) 
 
› Bệnh nhân sẽ hiểu về các quyết định điều trị, thay đổi lối sống tích cực phù hợp với các điều kiện kinh tế, xã hội, và chất lượng cuộc sống 
 
› Cải thiện sức khỏe cả về mặt thể chất lẫn tinh thần cho người bệnh 
 
Trao quyền cho bệnh nhân giúp bệnh nhân có trách nhiệm hơn trong công tác điều trị: 
 
› Cách tiếp cận mới: cá thể hóa điều trị, sự hợp tác giữa các thành viên 
 
› Người bệnh được xem như: Chịu trách nhiệm nhiều hơn trong điều trị, người quyết định đầu tiên trong kiểm soát điều trị hằng ngày, chủ động trong các điều trị 
 
› Nhân viên y tế là chuyên gia về bệnh đái tháo đường 
 
- ĐTĐ là bệnh lý mãn tính, vì vậy, giáo dục một lần thì chưa đủ. 
 
 Bệnh nhân ĐTĐ cần sự hỗ trợ liên tục 
 
 Mục tiêu là giúp bệnh nhân kiểm soát hiệu quả các tình trạng bệnh của mình 
 
 ĐTĐ là bệnh lý cần sự tự theo dõi của bệnh nhân. 
 
 Việc trao đổi thông tin giữa bệnh nhân- nhân viên y tế hiện tại chưa được lý tưởng 
 
 Rất nhiều rào cản về tự kiểm soát điều trị và phù hợp điều trị 
 
 Để việc kiểm soát đường huyết cho bệnh nhân đạt hiệu quả tối ưu, các chương trình giáo dục về tự kiểm soát đái tháo đường và hỗ trợ cần được xem như một yếu quan trọng và lưu tâm trong mỗi lần thăm khám bệnh nhân 
 
 Sự cải thiện trong chăm sóc đái tháo đường chỉ đạt được tối ưu khi có sự tham gia tích cực của người bệnh và gia đình cũng như các nhân viên y tế 
 
- Sau mỗi đợt phát hiện cần đánh giá hiệu quả, tổng kết và rút kinh nghiệm.
 
C. KẾT LUẬN:

- Nên áp dụng mô hình Nhóm chăm sóc/ TNV phát hiện bệnh tiểu đường với các thành viên: Bác sĩ, Điều dưỡng, KTV xét nghiệm, chuyên gia dinh dưỡng, có cấp phép, hỗ trợ và đặt văn phòng Đại diện
- Giáo dục bệnh nhân về bệnh ĐTĐ và tình trạng của bệnh nhân là một yếu tố quan trọng. 
 
- Phương thức tiếp cận cần đi vào cộng đồng, vào trực tiếp đời sống của các đối tượng có nguy cơ.

TÀI LIỆU THAM KHẢO
 
1. Dall T và các cộng sự. (2010), "The economic burden of diabetes", Health Aff. 29, tr. 297-303.
 
2. International Diabetes Federation (2015), IDF Diabetes Atlas 7th ed.

Phát hiện sớm bệnh nhân đái tháo đường, giảm số lượng bệnh nhân chưa được chẩn đoán hiện nay

Cập nhật lúc : 08/06/2016 09:09

BÀI DỰ THI
GIẢI PHÁP SÁNG TẠO Y TẾ CỘNG ĐỒNG
----------------------

Nội dung giải pháp dự thi: 
Phát hiện sớm bệnh nhân đái tháo đường,
giảm số lượng bệnh nhân chưa được chẩn đoán hiện nay
 
Họ và tên người dự thi: Nguyễn Chí Thanh
Trình độ chuyên môn: Thạc sỹ, Bác sỹ
Cơ quan công tác: Trung tâm Y tế dự phòng tỉnh Hà Tĩnh
Phó Chủ tịch Hội Thầy thuốc trẻ tỉnh Hà Tĩnh 

Đái tháo đường ở Việt Nam vẫn được liệt kê vào nhóm những bệnh “giết người thầm lặng” bởi đái tháo đường có thể ủ bệnh trong cơ thể từ 5-10 năm, thậm chí 12 năm sau mới phát bệnh, và lúc này bệnh đã gây các biến chứng nguy hiểm về mắt như giảm thị lực do đục thủy tinh thể, bệnh lý võng mạc; gây suy thận; những biến chứng tim mạch nguy hiểm như bệnh mạch vành,…Trong đó nhóm những bệnh lý tim mạch là nguyên nhân tử vong hàng đầu trên thế giới. Do đó, cần phát hiện sớm đái tháo đường và kịp thời điều trị ngăn ngừa biến chứng nguy hiểm. Tại Việt Nam, tỷ lệ bệnh đái tháo đường hiện nay ước tính khoảng 5,7% dân số mắc bệnh đái tháo đường và số mắc có xu hướng tăng nhanh qua các năm. Đa phần người bệnh bị đái tháo đường không có triệu chứng, do đó không biết mình bị bệnh. Trên 50% bệnh nhân đái tháo đường khi đã có một hay nhiều biến chứng mới biết mình bị đái tháo đường.

Một số nguyên nhân dẫn đến phần lớn người bệnh đái tháo đường được phát hiện và điều trị muộn và tỷ lệ người dân không được phát hiện bệnh trong cộng đồng cao hiện nay là:

- Phần lớn người dân không có kiến thức và khả năng tự theo dõi phát hiện bản than mình có nguy cơ bị mắc bệnh đái tháo đường để phát hiện sớm bệnh đái tháo đường. Tỷ lệ người dân chủ động khám sức khỏe định kỳ để phát hiện bệnh đái tháo đường còn thấp. Bệnh đái tháo đường tiến triển thầm lặng nên nhiều người dân vẫn còn tâm lý chủ quan.

- Công tác truyền thông chưa sâu, rộng vì vậy chưa nhận được sự quan tâm của cộng đồng, chưa cung cấp được nhiều kiến thức và đặc biệt chưa thay đổi được hành vi của người dân, giúp người dân thực hiện các hành vi có lợi để phòng bênh và phát hiện sớm bệnh đái tháo đường.

- Hệ thống y tế tuyến xã và y tế dự phòng chưa có nhiều hoạt động nhằm phát hiện sớm bệnh đái tháo đường mà chủ yếu bệnh nhân được phát hiện tại các bệnh viện vào giai đoạn đã có triệu chứng lâm sàng (phát hiện muộn) hoặc được phát hiện ngẫu nhiên khi điều trị một bệnh khác. Nhân viên y tế tại các cơ sở khám bệnh không tư vấn kỹ cho người bệnh khi phát hiện yếu tố nguy cơ đái tháo đường, kể cả đối với người đã có rối loạn đường máu (tiền đái tháo đường) để người dân chủ động dự phòng đái tháo đường mà đánh giá có bị mắc bệnh hay không thông qua kết quả xét nghiệm.

Để phát hiện sớm bệnh nhân bị đái tháo đường, giảm số lượng bệnh nhân bị bệnh đái tháo đường chưa được chẩn đoán hiện nay, tôi đưa ra một số giải pháp sau:

Một là, sử dụng mạng lưới truyền thông trên nhiều kênh thông tin để cung cấp kiến thức cho người dân để người dân tự đánh giá nguy cơ bị bệnh đái tháo đường để tiếp cận cơ sở y tế khám phát hiện bệnh sớm; Khuyến cáo nhân dân thực hiện các hành vi có lợi như để phòng bệnh đái tháo đường như dinh dưỡng hợp lý, tăng cường hoạt động thể lực, ăn giảm đường, chất béo, không hút thuốc lá, không lạm dụng rượu bia,…

Tuyên truyền sâu rộng nhưng nội dung ngắn gọn, trọng tâm cho người dân hiểu được và tự đánh giá được bản thân mình đang có yếu tố nguy cơ mắc đái tháo đường, phương pháp chẩn đoán đái tháo đường, cơ sở y tế nào có thể phát và hiệu quả của việc phát hiện sớm đái tháo đường để người dân tự tiếp cận cơ sở y tế thuận lợi nhất để được chẩn đoán. Khuyến cáo người dân khám sức khỏe định kỳ để phát hiện bệnh đái tháo đường.

Hai là, hệ thống y tế tuyến xã và y tế dự phòng thực hiện nhiều hoạt động phát hiện sớm bệnh đái tháo đường như: sàng lọc tại cộng đồng để phát hiện người có yếu tố nguy cơ; đối với người có yếu tố nguy cơ cần được xét nghiệm đường huyết tại Trạm y tế xã, trung tâm Y tế huyện, Trung tâm Y tế dự phòng tỉnh; lập danh sách quản lý những người có yếu tố nguy cơ và người bị tiền đái tháo đường để tư vấn và xét nghiệm theo dõi tiến triển của bệnh. Các bệnh viện cần tăng cường phát hiện bệnh thông qua xét nghiệm đường huyết và tư vấn cho người có yếu tố nguy cơ và người bị tiền đái tháo đường để người bệnh bệnh định kỳ khám phát hiện bệnh sớm. Cung cấp trang thiết bị, vật tư thiết yếu phục vụ cho hoạt động xét nghiệm bệnh đái tháo đường cho trạm y tế xã. Khuyến khích các cơ sở y tế tư nhân, bác sỹ gia đình làm các xét nghiệm đơn giản để phát hiện sớm đái tháo đường; Đào tạo cho cán bộ y tế tuyến xã đủ năng lực xét nghiệm phát hiện đái tháo đường ngay tại tuyến xã. Khi phát hiện người mắc bệnh hoặc nghi ngờ mắc bệnh đái tháo đường, cán bộ y tế tuyến xã phải giới thiệu bệnh nhân đến bệnh viện hoặc các trung tâm khám chuyên khoa để được khám và đánh giá chính xác mức độ tình trạng bệnh và hướng dẫn cách tự theo dõi và điều trị để ổn định đường huyết và phòng ngừa các biến chứng.

Ba là, người dân cần nắm bắt kiến thức để phòng bệnh và chủ động khám sức khỏe định kỳ để phát hiện bệnh đái tháo đường. Phòng chống đái tháo đường không thể chỉ dựa vào mỗi nỗ lực của các cơ quan chức năng mà chủ yếu phải dựa vào ý thức phòng bệnh của người dân. Những người có nguy cơ cao (người trên 40 tuổi, người bị béo phì, béo bụng, cao huyết áp, rối loạn mỡ máu, bị bệnh tim mạch, phụ nữ sinh con trên 4kg, thai phụ mang thai có đường huyết cao, người có anh em trong nội tộc bị đái tháo đường) và người được chẩn đoán tiền đái tháo đường nên đi khám, kiểm tra định kỳ 2 lần/năm để sớm phát hiện bệnh, điều trị. Người có các biểu hiện như: thường xuyên khát, uống nước liên tục, đi tiểu thường xuyên, nhanh đói dù ăn nhiều, sụt cân, người mệt mỏi, thị lực giảm, đau bụng… thì cần nghĩ đến bệnh tiểu đường, nên đi khám để được chẩn đoán và điều trị kịp thời. Đối với người có sức khỏe bình thường nên đi khám sức khỏe định kỳ 1 lần/năm để xét nghiệm phát hiện sớm bệnh đái tháo đường.

Mọi người dân nên có chế độ ăn (không nên ăn khiêng mà ăn vừa đủ), tập luyện một cách hợp lý để phòng bệnh.

 

PHÁT HIỆN SỚM BỆNH NHÂN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG, GIẢM SỐ LƯỢNG CHƯA ĐƯỢC CHẨN ĐOÁN HIỆN NAY (KHOẢNG 3 TRIỆU NGƯỜI)

Cập nhật lúc : 15/06/2016 10:03

ĐỀ TÀI: PHÁT HIỆN SỚM BỆNH NHÂN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG, 
GIẢM SỐ LƯỢNG CHƯA ĐƯỢC CHẨN ĐOÁN HIỆN NAY (KHOẢNG 3 TRIỆU NGƯỜI)
 
Thành viên nhóm: 
1. Khuất Thị Thúy
2. Hồng Thị Minh Hạnh
3. Ngô Thị Phương Oanh
4. Vũ Thị Phương Nhung
Sinh viên : Trường Đại học Y tế công cộng, 138A Giảng Võ,  Ba Đình, Hà Nội
 
Bài dự thi

Phát hiện sớm bệnh nhân đái tháo đường, giảm số lượng bệnh nhân chưa được chẩn đoán hiện nay (khoảng 3 triệu người)

Cập nhật lúc : 15/06/2016 10:21

Phát hiện sớm bệnh nhân đái tháo đường, giảm số lượng bệnh nhân 
chưa được chẩn đoán hiện nay (khoảng 3 triệu người)
 
A. ĐẠI CƯƠNG
 
Đái tháo đường (ĐTĐ) là một bệnh có tỉ lệ tăng rất nhanh. Theo Tổ Chức Y Tế Thế Giới (WHO) số người bị đái tháo đường trên toàn thế giới trong năm 1985 là 30 triệu người, đến năm 1994 lên dến 98,9 triệu và dự kiến đến năm 2010 sẽ là 239,3 triệu. Số liệu điều tra ở Việt Nam năm 1990 cho thấy tỉ lệ đái tháo đường ở Hà Nội là 1,44% ở Huế là 0,96% và ở TP Hồ Chí Minh là 2,52% dân số và chỉ sau 10 năm đến năm 2010 tỉ lệ ở thành phố lớn tăng 4,5%. Mặc dù đã có nhiều tiến bộ trong phương pháp điều trị và các biện pháp phòng ngừa tích cực, bệnh nhân đái tháo đường vẫn có rất nhiều biến chứng gây tử vong và tàn phế. 
 
I. Biến chứng của bệnh đái tháo đường
 
đái tháo đường là bệnh luôn gây nhiều biến chứng cấp tính cũng như mãn tính. Các biến chứng mãn tính của đái tháo đường rất đa dạng bao gồm :
 
1. Biến chứng cấp tính của bệnh đái tháo đường:

1.1 Hạ đường huyết:
Là một cấp cứu nội khoa thường gặp trên lâm sàng, và là một trong những nguyên nhân gây tử vong ở bệnh nhân đái tháo đường (ĐTĐ).
 
a) Nguyên nhân:
- Dùng Insulin mà:
 
- Ăn kiêng quá mức hoặc quên bữa ăn.
 
- Chích quá liều Insulin.
 
- Suy thận làm giáng hóa Insulin gây hạ đường huyết.
 
- Do thuốc viên hạ đường huyết : Nhóm Sulfonylure kích thích bài tiết Insulin có thể gây hạ đường huyết, nhất là người lớn tuổi có thương tổn gan thận.
 
b) Triệu chứng: 
 
- Vã mồ hôi, vật vã, lạnh run, lo âu, bồn chồn, hoa mắt, chóng mặt, môi tê rần.
 
- Bệnh nhân lơ mơ, hành động không chính xác, lú lẫn, không tiếp xúc, nặng hơn có thể đi vào hôn mê.
 
- Chẩn đoán xác định: đường huyết mao mạch < 40 mg/dl. 
 
c) Xử trí: 

- Nếu bệnh nhân tỉnh: cho uống nước đường hoặc uống sữa.
 
- Nếu bệnh nhân không tỉnh: đưa vào bệnh viện cấp cứu, truyền đường tĩnh mạch.
 
d) Phòng ngừa: 
 
- Dùng thuốc điều trị đái tháo đường Insulin hay thuốc uống phải đúng chỉ định của Bác sỹ, đúng loại thuốc, đúng liều, đúng giờ. 
 
- Ăn uống đúng giờ, đủ lượng thức ăn, không bỏ bữa ăn, nếu họat động thể lực phải bù đủ năng lượng. Luôn nhớ phương châm : Không ăn không dùng thuốc hạ đường.
 
1.2. Hôn mê nhiễm ceton acid:

Là một trong những biến chứng cấp tính và là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong cho bệnh nhân đái tháo đường.
 
a) Nguyên nhân: Thường xảy ra ở bệnh nhân đái tháo đường type I hơn đái tháo đường type II, thường xảy ra khi có các yếu tố làm dễ như :
 
- Nhiễm trùng nặng : hô hấp, tiết niệu, sinh dục…
 
- Ngưng điều trị đột ngột Insulin hay các thuốc sulfamid hạ đường huyết.
 
- Tai biến tim mạch như tai biến mạch máu não, nhồi máu cơ tim…

b) Triệu chứng:

- Giai đoạn đầu : mệt mỏi, tiểu nhiều, sụt cân nhanh, uống nhiều, đau bụng, chán ăn, buồn nôn, nôn,… 
 
- Giai đoạn nặng : bệnh nhân lơ mơ, khó thở và hôn mê.
 
Xử trí: bệnh nhân phải được đưa vào bệnh viện cấp cứu khẩn cấp nếu bệnh nhân hôn mê.
 
2. Biến chứng mạn tính của bệnh đái tháo đường:

2.1. Biến chứng mạch máu:

a) Biến chứng mạch máu lớn như:

- Bệnh động mạch (ĐM) vành tổn thương trong đái tháo đường gây nhồi máu cơ tim là một trong những nguyên nhân gây tử vong hàng đầu trong bệnh lý tim mạch chiếm tỉ lệ 80%. Ngày nay, người ta thường xử trí bằng phẫu thuật bắc cầu động mạch vành hoặc đặt stent nong mạch vành.
 
- Bệnh động mạch não gây tai biến mạch máu não như nhồi máu não, xuất huyết não. Dự phòng bằng uống Aspirin liều thấp (81 mg/ngày).
 
- Bệnh động mạch ngọai biên gây tắc động mạch chi duới dẫn đến loét bàn chân (25%) và có thể cắt cụt chi do hoại tử đầu chi (50%). Ngoài ra, bệnh động mạch ngoại biên còn gây hoại tử khô ngọn chi, tạo những mảng hoại tử sẫm màu ở gan bàn chân hay quanh ngón chân, có khi gây viêm mô tế bào nhiễm khuẩn ở mu chân hoặc gan chân.
 
b) Biến chứng mạch máu nhỏ như:
 
- Bệnh lý mắt gồm:
 
- Bệnh lý mạch máu võng mạc:
 
- Bệnh võng mạc đái tháo đường không tăng sinh: phình mạch, xuất huyết hình chấm, xuất tiết, và phù võng mạc.
 
- Bệnh võng mạc đái tháo đường tăng sinh: phát triển mao mạch mới đưa đến hậu quả viêm võng mạc tăng sinh, rồi đưa đến bong võng mạc. Điều trị bằng phát hiện sớm để chiếu tia laser quang đông.
 
- Đục thủy tinh thể: Tiến triển nhanh nếu không kiểm soát đường huyết.
 
- Bệnh mạch máu thận gây xơ hóa mao mạch cầu thận dẫn đến suy thận và giai đoạn cuối là phải chạy thận nhân tạo. Trong số các bệnh nhân phải chạy thận nhân tạo, 80% có nguyên nhân là suy thận do đái tháo đường.
 
2.2. Biến chứng thần kinh (TK):

a) Thần kinh cảm giác: 

- Dị cảm như nóng ran, ngứa, đau,…
 
- Mất cảm giác: đối xứng tay và chân, kiểu “mang găng mang vớ”.
 
b) Thần kinh vận động: 
 
- Ít đối xứng, viêm một dây thần kinh.
 
- Liệt dây Thần kinh sọ não: sụp mi (dây III), liếc ngoài (dây VI), liệt mặt (dây VII), điếc (dây VIII),…
 
c) Thần kinh tự chủ: nhịp tim nhanh khi nghỉ, ảnh hưởng niệu dục (bất lực, tiểu không tự chủ), hạ huyết áp tư thế, ảnh hưởng đường tiêu hóa (buồn nôn, hội chứng trào ngược, táo bón),… 
 
Loét chân do đái tháo đường
 
2.3. Biến chứng ở da: Thay đổi sắc tố da đặc trưng bởi các chất sẫm màu teo da ở mặt trước cẳng chân.
 
2.4. Biến chứng xương khớp: biến chứng này thường là di chứng về chuyển hóa cũng như mạch máu do đái tháo đường lâu năm. Bao gồm: hạn chế vận động bằng tay, mất khả năng áp hai bàn tay trên một mặt phẳng (hội chứng xơ cứng dần bàn tay); mất chất khoáng xương; bất thường khớp xương do viêm bao hoạt dịch;…
 
2.5. Biến chứng nhiễm khuẩn: nhiễm khuẩn niệu, viêm âm đạo do Candida,…
 
B. GIẢI PHÁP
 
Mục đích: Dự phòng làm chậm xuất hiện bệnh đái tháo đường và biến chứng của bệnh đái tháo đường 
Để phòng chống bệnh đái tháo đường có hiệu quả nguời ta chia ra các mức phòng bệnh :
 
• Dự phòng cấp I : Phòng ngừa cho những nguời có yếu tố nguy cơ. Mục đích làm giảm tỉ lệ mới mắc bệnh đái tháo đường và làm chậm thời gian phát bệnh trên lâm sàng.
 
• Dự phòng cấp II : Phòng ngừa cho những nguời đã mắc bệnh đái tháo đường. Mục đích làm chậm xuất hiện các biến chứng, hoặc làm giảm mức độ nặng khi đã bắt đầu xuất hiện các biến chứng.
 
1. Dự phòng cấp I :
 
Theo điều tra ở VN, tỉ lệ người dân mắc bệnh đái tháo đường trên cả nước cuối năm 2008 là 5,0%, tăng gấp đôi so với năm 2002 (2,7%). Một nghiên cứu gần đây cũng cho thấy số người mắc đái tháo đường tăng rất nhanh ở 4 thành phố lớn, từ 4% (2000) lên đến 7,2% (2008).
 
Bệnh đái tháo đường phát triển ở những người có các yếu tố nguy cơ thúc đẩy sau :
 
- Lớn tuổi : phụ nữ mãn kinh (≥ 50 tuổi)
 
- Nam giới có hút thuốc lá và uống bia rượu
 
- Tiền sử gia đình có người bị đái tháo đường
 
- Sanh con trên 4kg
 
- đái tháo đường trong thai kỳ
 
- Hội chứng chuyển hóa :
 
- Mập phì thừa cân (BMI ≥ 23, vòng eo ở nam ≥ 90cm, ở nữ ≥ 80cm)
 
- Tăng huyết áp (huyết áp ≥ 140/90 mmHg)
 
- Tăng Triglyceride
 
- Giảm HDL-c
 
Các yếu tố nguy cơ trên sẽ gây ra tình trạng đề kháng insulin, dẫn đến rối loạn dung nạp glucose, còn gọi là tiền đái tháo đường (pre-diabetes), và nếu tiếp tục không kiểm soát tốt, sẽ phát triển bệnh đái tháo đường sớm
 
2. Dự phòng cấp II :
 
Đề phòng các biến chứng của đái tháo đường để làm chậm xuất hiện các biến chứng hoặc làm giảm mức độ nặng khi đã có các biến chứng. Người ta khuyến cáo đối với các bệnh nhân đái tháo đường lần đầu chẩn đoán phải được giới thiệu đến những cơ sở chuyên khoa (tại các trung tâm y tế, các bệnh viện lớn như BV Vạn Hạnh) để được khám, đánh giá chính xác mức độ, tình trạng bệnh, được hướng dẫn cách tự theo dõi theo tiêu chuẩn thống nhất.
 
Kiểm soát đường huyết qua theo dõi định kỳ : khi đã mắc bệnh đái tháo đường, để ổn định đường huyết phải theo dõi : 
 
a. Đường huyết lúc đói : mỗi tháng một lần, khi ổn định thì 3 tháng/lần.
 
- HbA1c : là chỉ số đánh giá đường huyết trung thành nhất, bắt buộc 3 tháng/lần.
 
- Các chỉ số sinh hóa khác (lipid máu, chức năng gan, chức năng thận, microalbumin niệu) : 3-6 tháng/lần tùy bệnh lý của từng bệnh nhân.
 
Tầm soát biến chứng của ĐTĐ : cần phải thăm khám định kỳ như sau :
 
b. Khám bàn chân :
 
- Tình trạng mạch máu bằng siêu âm Doppler màu, TK vận động, TK cảm giác
 
- Lần khám đầu tiên, sau đó 3-6 tháng khám một lần
 
c. Khám tim mạch :
 
- Điện tâm đồ, siêu âm tim : 3-6 tháng/lần tùy từng bệnh nhân
 
- Theo dõi huyết áp thường xuyên, hướng dẫn bệnh nhân tự theo dõi huyết áp
 
- Kiểm tra, đánh giá chế độ ăn uống, chế độ luyện tập, đo chỉ số cơ thể 6tháng/lần
 
d. Khám đáy mắt : 
 
- Khám lâm sàng : 6 tháng/lần với bệnh nhân đái tháo đường < 5 năm và 3 tháng/lần với bệnh nhân đái tháo đường > 5 năm
 
- Chụp đáy mắt : 6 tháng – 1 năm/lần tùy theo mức độ thương tổn lâm sàng
 
3. Giải pháp
Để phát hiện sớm bệnh nhân đái tháo đường, giảm số lượng bệnh nhân chưa được chẩn đoán
Khám và xét nghiệm sàng lọc định kỳ được cho là biện pháp hữu hiệu trong việc phát hiện sớm đái tháo đường
 
Vì vậy, vấn đề chính trong nhóm giải pháp là phải phổ biến được nhóm đối tượng được xét nghiệm định kỳ đường máu
 
a. Đối với cán bộ nhân viên làm việc trong các cơ quan, xí nghiệp, đoàn thể: tiến hành khám sức khỏe định kỳ và lập danh sách các đối tượng thuộc nhóm nguy cơ (dưới đây) để chỉ định xét nghiệm đường máu. Qua đó phát hiện sớm các đối tượng mắc đái tháo đường.
 
- Lớn tuổi : phụ nữ mãn kinh (≥ 50 tuổi)
 
- Nam giới có hút thuốc lá và uống bia rượu
 
- Tiền sử gia đình có người bị đái tháo đường
 
- Sanh con trên 4kg
 
- đái tháo đường trong thai kỳ
 
- Hội chứng chuyển hóa :
 
- Mập phì thừa cân (BMI ≥ 23, vòng eo ở nam ≥ 90cm, ở nữ ≥ 80cm)
 
- Tăng huyết áp (huyết áp ≥ 140/90 mmHg)
 
- Tăng Triglyceride
 
- Giảm HDL-c
 
b. Đối với những người lao động tự do, người già, tổ dân phố tại nơi cư trú lập danh sách những đối tượng nguy cơ cao để tuyên truyền, vận động làm xét nghiệm đường huyết định kỳ.

Phát hiện sớm bệnh nhân đái tháo đường, giảm số lượng bệnh nhân chưa được chẩn đoán hiện nay

Cập nhật lúc : 15/06/2016 10:32

Phát hiện sớm bệnh nhân Đái tháo đường, giảm số lượng bệnh nhân chưa được chẩn đoán
 
Người dự thi: Huỳnh Lê Thái Bão
Lớp Y đa khoa K12A – Đại học Tây Nguyên
Địa chỉ: 501/7/2b Lê Duẩn – Eatam – Buôn Ma Thuột – Đăk Lăk
 
NỘI DUNG BÀI DỰ THI
 
Đái tháo đường là bệnh mạn tính, phổ biến, dễ mắc và điều trị tốn kém. Nó ảnh hưởng đến hàng triệu người, cả nam lẫn nữ, ở mọi lứa tuổi, mọi trình độ văn hóa và không phân biệt cả về địa giới. Ai trong chúng ta cũng có thể mắc bệnh này, vì bên cạnh các yếu tố khách quan như di truyền, sắc tộc, tuổi tác… thì nó là hệ quả của tình trạng căng thẳng kéo dài, lối sống không lành mạnh: ăn uống không điều độ, béo phì, ít vận động, lối sống công nghiệp với nhiều thức ăn nhanh không cân đối về dinh dưỡng và quá thừa năng lượng.
 
Tại Việt Nam, theo công bố của Bệnh viện Nội tiết Trung ương, tỷ lệ người mắc bệnh đái tháo đường năm 2012 là 5,7% trong khi năm 2002 tỷ lệ này mới chỉ khoảng 2,7% dân số. Đây là mức gia tăng đáng báo động vì trong vòng 10 năm, tỷ lệ người mắc bệnh đã tăng lên gấp đôi. Hiện nay, có rất nhiều trường hợp phát hiện bệnh đái tháo đường ở giai đoạn muộn, khi đã có biến chứng nặng nề về mắt, tổn thương thận, thần kinh, loét chân dẫn đến phải cắt cụt chi, nhiễm trùng… Nguy cơ tử vong do bệnh tim, đột quỵ và bệnh thận tăng 3 lần khi bị mắc căn bệnh này. Đây không chỉ là vấn đề nan giải tác động trực tiếp đến sức khỏe bệnh nhân mà còn là gánh nặng đối với sự phát triển của toàn xã hội. Đối với những bệnh nhân nằm viện, chi phí điều trị bệnh có khi lên tới con số hàng trăm triệu đồng. Cũng theo một thống kê, mỗi năm, nước ta tốn khoảng 3 đến 6% ngân sách của ngành y tế để dành cho việc chữa trị các biến chứng của bệnh đái tháo đường. Đây là sức ép rất lớn đối với sự phát triển kinh tế – xã hội của một nước đang trên đà phát triển. Vì vậy việc phát hiện sớm, giảm số lượng bệnh nhân chưa được chẩn đoán bệnh Đái tháo đường là yêu cầu cấp thiết trong trong giai đoạn hiện nay và cả trong tương lai. Trước thực tại trên, là một sinh viên y khoa em xin nêu ra một số giải pháp sau đây:
 
1. Giải pháp về chính sách, pháp luật
 
a) Tăng cường thực thi, bổ sung và hoàn thiện các chính sách, quy định pháp luật về kiểm soát yếu tố nguy cơ bệnh Đái tháo đường.
 
+ Quán triệt, triển khai thực hiện Luật:
 
- Luật Bảo vệ môi trường.
 
- Luật An toàn thực phẩm.
 
- Chính sách quốc gia phòng, chống tác hại của lạm dụng đồ uống có cồn.
 
- Phòng chống tác hại thuốc lá.
 
+ Nghiên cứu, đề xuất, bổ sung các quy định về kiểm soát quảng cáo, chính sách thuế phù hợp nhằm giảm sử dụng thuốc lá, đồ uống có cồn, nước ngọt, thực phẩm chế biến sẵn và một số sản phẩm khác có nguy cơ gây bệnh Đái tháo đường.
 
+ Đề xuất, bổ sung các chính sách nhằm khuyến khích sản xuất, cung cấp và tiêu thụ các thực phẩm an toàn, dinh dưỡng có lợi cho sức khỏe; tạo điều kiện cho người dân tiếp cận, sử dụng không gian công cộng, cơ sở luyện tập thể dục, thể thao; phát triển giao thông công cộng, giao thông phi cơ giới.
 
b) Hoàn thiện, bổ sung cơ chế phối hợp liên ngành từ Trung ương đến địa phương cùng với đẩy mạnh huy động các tổ chức, cá nhân và cộng đồng tham gia để triển khai thực hiện công tác phòng chống bệnh Đái tháo đường.
 
c) Rà soát, bổ sung, hoàn thiện văn bản quy phạm pháp luật để hoạt động phòng, chống các bệnh Đái tháo đường được thực hiện thống nhất theo hệ thống từ Trung ương đến địa phương; bảo đảm thuốc và vật tư cho công tác dự phòng, khám sàng lọc, phát hiện sớm, điều trị, theo dõi và quản lý lâu dài người bệnh tại y tế cơ sở.
 
d) Nghiên cứu, đề xuất chính sách khuyến khích cung cấp dịch vụ dự phòng, quản lý điều trị bệnh Đái tháo đường tại cộng đồng thông qua y tế tư nhân, bác sỹ gia đình, đặc biệt đối với vùng sâu, vùng xa.
 
2. Giải pháp về truyền thông 
 
a) Sử dụng mạng lưới thông tin truyền thông từ Trung ương tới địa phương để tuyên truyền, phổ biến, vận động các cấp, các ngành, đoàn thể và người dân thực hiện các chủ trương, chính sách, pháp luật, các hướng dẫn, khuyến cáo về phòng, chống bệnh Đái tháo đường..
 
b) Nghiên cứu, xây dựng và cung cấp các chương trình, tài liệu truyền thông về phòng chống bệnh Đái tháo đường phù hợp với phương thức truyền thông và các nhóm đối tượng.
 
c) Vận động xây dựng cộng đồng nâng cao sức khỏe phù hợp với từng vùng miền và từng nhóm đối tượng.
 
d) Đề xuất phát động phong trào toàn dân thực hiện lối sống tăng cường sức khỏe gắn với phòng, chống bệnh Đái tháo đường.

3. Giải pháp tăng cường hệ thống cung cấp dịch vụ và chuyên môn kỹ thuật y tế
 
a) Tổ chức hệ thống dự phòng, phát hiện sớm, bệnh Đái tháo đường từ Trung ương đến cấp xã.
 
- Xây dựng, ban hành các hướng dẫn về chuyên môn nghiệp vụ cho công tác dự phòng, phát hiện sớm, quản lý bệnh Đái tháo đường phù hợp với chức năng nhiệm vụ và phân tuyến kỹ thuật của các cơ sở y tế;
 
- Các cơ sở y tế dự phòng, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh công lập và ngoài công lập từ Trung ương đến cấp xã tổ chức các hoạt động dự phòng, phát hiện sớm, quản lý bệnh Đái tháo đường phù hợp chức năng, nhiệm vụ theo quy định;
 
- Phối hợp, lồng ghép khám phát hiện bệnh Đái tháo đường trong các hoạt động khám sức khỏe định kỳ, quản lý sức khỏe tại các trường học, cơ quan, xí nghiệp. 
 
b) Tăng cường phát hiện, quản lý tại trạm y tế xã và cộng đồng cho người mắc bệnh Đái tháo đường theo quy định, bảo đảm cung cấp dịch vụ quản lý, theo dõi và chăm sóc liên tục cho người bệnh. 
 
- Nghiên cứu tổ chức các hình thức phát hiện, điều trị, quản lý bệnh Đái tháo đường phù hợp tại tuyến xã, trước mắt triển khai phát hiện, điều trị dự phòng và điều trị duy trì theo chỉ định của tuyến trên, từng bước tiến tới tự quản lý điều trị được bệnh Đái tháo đường ở những trạm y tế đủ điều kiện.
 
- Cung cấp đủ thuốc thiết yếu cho điều trị bệnh Đái tháo đường cũng như test đường máu mao mạch ở tuyến xã theo quy định.
 
c) Tăng cường hiệu quả hoạt động của lĩnh vực y tế dự phòng trong kiểm soát yếu tố nguy cơ để dự phòng bệnh Đái tháo đường 
 
- Ban hành các hướng dẫn chuyên môn và triển khai các can thiệp phòng, chống tác hại của thuốc lá, lạm dụng đồ uống có cồn, bảo đảm dinh dưỡng hợp lý, giảm ăn muối, tăng cường hoạt động thể lực tại các cơ sở giáo dục, nơi làm việc và tại cộng đồng; phát hiện sớm, quản lý, tư vấn và điều trị dự phòng đối với người thừa cân béo phì, tăng huyết áp, tăng đường máu, rối loạn mỡ máu và có nguy cơ tim mạch; thực hiện mô hình nâng cao sức khỏe phòng, chống bệnh Đái tháo đường.
 
- Hướng dẫn, hỗ trợ, kiểm tra, giám sát hoạt động dự phòng, phát hiện sớm, điều trị, quản lý và tự quản lý điều trị bệnh Đái tháo đường tại trạm y tế xã và cộng đồng theo quy định. Nâng cao năng lực cho Trung tâm y tế huyện để thực hiện việc quản lý, hỗ trợ kỹ thuật cho tuyến xã.
 
- Tăng cường hỗ trợ chuyên môn kỹ thuật cho các hoạt động liên ngành có liên quan trong phòng, chống bệnh Đái tháo đường tại cộng đồng.
 
d) Củng cố hệ thống cơ sở khám bệnh, chữa bệnh để cung cấp các dịch vụ toàn diện, chuyên sâu và kỹ thuật cao cho chẩn đoán, điều trị bệnh nhân mắc bệnh Đái tháo đường đồng thời hỗ trợ chuyên môn cho tuyến dưới, bảo đảm việc phát hiện bệnh sớm, điều trị hiệu quả và quản lý bệnh nhân liên tục và lâu dài.
 
- Nâng cấp, hoàn thiện các cơ sở khám và chẩn đoán bệnh Đái tháo đường.
 
- Triển khai các biện pháp sàng lọc phù hợp, hiệu quả để tăng cường phát hiện sớm và quản lý điều trị các bệnh Đái tháo đường.
 
- Hoàn thiện và thực hiện gói dịch vụ cho mỗi tuyến bảo đảm hệ thống quản lý điều trị liên tục cho người mắc bệnh Đái tháo đường.
 
4. Giải pháp về nguồn lực
 
a) Phát triển nguồn nhân lực
 
- Sắp xếp, bố trí nhân lực các tuyến cho phòng, chống các bệnh Đái tháo đường.
 
- Bổ sung, cập nhật nội dung đào tạo về phòng chống bệnh Đái tháo đường trong các chương trình đào tạo của các trường trung cấp, cao đẳng và đại học y; chú trọng các chương trình đào tạo bác sỹ gia đình, cử nhân y tế công cộng, cử nhân điều dưỡng và dinh dưỡng tiết chế; 
 
- Đào tạo, nâng cao năng lực cho cán bộ trong các lĩnh vực liên quan đến kiểm soát các yếu tố nguy cơ bệnh Đái tháo đường của các Bộ, ngành.
 
- Tăng cường đào tạo nâng cao năng lực phòng chống bệnh Đái tháo đường cho đội ngũ cán bộ y tế phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ của từng tuyến. Bảo đảm đào tạo và đào tạo liên tục để cập nhật kiến thức, kỹ năng phòng chống bệnh Đái tháo đường.
 
- Ưu tiên đào tạo lại cán bộ y tế xã, y tế trường học, y tế cơ quan, xí nghiệp và y tế thôn bản thông qua chương trình đào tạo toàn diện và lồng ghép phòng chống bệnh Đái tháo đường nhằm bảo đảm cung cấp dịch vụ trong dự phòng, quản lý điều trị và chăm sóc bệnh nhân mắc bệnh Đái tháo đường tại trạm y tế và cộng đồng;
 
- Có cơ chế phù hợp để khuyến khích cán bộ y tế xã tham gia các hoạt động phát hiện sớm, giám sát và quản lý điều trị các bệnh Đái tháo đường tại cộng đồng.
 
b) Thuốc và trang thiết bị
 
- Tăng cường đầu tư, nâng cấp trang thiết bị, cơ sở vật chất cho hoạt động giám sát, dự phòng, phát hiện, chẩn đoán sớm, điều trị, quản lý bệnh Đái tháo đường.
 
- Bảo đảm cung ứng thuốc và vật tư thiết yếu cho chẩn đoán, điều trị các bệnh Đái tháo đường tại trạm y tế xã.
 
5. Giải pháp về nghiên cứu, theo dõi và giám sát
 
a) Nâng cao năng lực, đẩy mạnh nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực phòng, chống bệnh Đái tháo đường. Thiết lập mạng lưới các cơ sở đào tạo, nghiên cứu chuyên sâu về bệnh Đái tháo đường có sự tham gia của các trường, các viện. Tăng cường sử dụng thông tin và bằng chứng khoa học trong xây dựng chính sách, lập kế hoạch, chương trình, dự án về phòng chống bệnh Đái tháo đường, đặc biệt là các can thiệp tại cộng đồng.
 
b) Xây dựng hệ thống giám sát bệnh Đái tháo đường lồng ghép trong hệ thống thông tin y tế quốc gia để theo dõi, dự báo, giám sát yếu tố nguy cơ, số mắc bệnh và tử vong, đáp ứng của hệ thống y tế và hiệu quả các biện pháp phòng, chống bệnh Đái tháo đường. 
 
- Cập nhật và hoàn thiện bộ chỉ số quốc gia, quy trình, công cụ giám sát thống nhất áp dụng trên toàn quốc, kết hợp kiện toàn hệ thống thu thập thông tin báo cáo về bệnh Đái tháo đường.
 
- Định kỳ tổ chức điều tra quốc gia về yếu tố nguy cơ bệnh Đái tháo đường sử dụng quy trình và bộ công cụ chuẩn hóa để thu thập, theo dõi, giám sát mức độ và chiều hướng của các yếu tố nguy cơ bệnh Đái tháo đường trong cộng đồng. 
 
- Tăng cường tổ chức giám sát, đánh giá các hoạt động trong phòng chống bệnh Đái tháo đường, tiến độ thực hiện Chiến lược và các chính sách liên quan của các Bộ, ngành.
 
- Đề xuất xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về bệnh Đái tháo đường, thống nhất đầu mối để quản lý và công bố các thông tin, dữ liệu về bệnh Đái tháo đường. Tăng cường áp dụng công nghệ thông tin trong quản lý, kết nối giữa các tuyến để hỗ trợ chăm sóc, theo dõi bệnh nhân liên tục và lâu dài.
 

PHÁT HIỆN SỚM BỆNH NHÂN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG, GIẢM SỐ LƯỢNG BỆNH NHÂN CHƯA ĐƯỢC CHUẨN ĐOÁN HIỆN NAY

Cập nhật lúc : 15/06/2016 15:32

Bài dự thi
>>> Xem tại đây

10 hoạt động nổi bật trong tháng


Quảng cáo