PHÁT HIỆN SỚM ĐÁI THÁO ĐƯỜNG

Cập nhật lúc : 07/06/2016 08:59

PHÁT HIỆN SỚM ĐÁI THÁO ĐƯỜNG

Bs. Phan Thị Bích Hương, Bs Hoàng Văn Kỳ 
Trung tâm Tim mạch – BV Đại học Y Hà Nội
Đại diện: Bs Hoàng Văn Kỳ 
 
I. Đặt vấn đề

- ĐTĐ đang là vấn đề sức khỏe toàn cầu. Tỷ lệ ĐTĐ typ 2 ngày càng gia tăng nhanh, cùng với sự phát triển kinh tế, xã hội, và sự thay đổi lối sống.
 
- Theo số liệu của Hội Nội tiết Đái tháo đường Việt Nam, ước tính 5,7% dân số Việt Nam mắc bệnh ĐTĐ(hơn 4 triệu người), trong đó 60% chưa được phát hiện, chẩn đoán (khoảng 3 triệu người).
 
II. Chẩn đoán ĐTĐ

• Lâm sàng: không phải luôn rõ ràng, đặc biệt là với ĐTĐ typ 2
 
- Uống nhiều 
 
- Tiểu nhiều 
 
- Ăn nhiều 
 
- Sụt cân nhanh 
 
• Cận lâm sàng chẩn đoán ĐTĐ
 
- Đường huyết tương khi đói.
 
- Đường huyết bất kỳ.
 
- Nghiệm pháp dung nạp glucose với 75g glucose uống.
 
- HbA1c 
 
Chẩn đoán đái tháo đường dựa vào 1 trong 4 tiêu chí sau đây (theo ADA 2013):
 
1. Glucose huyết tương lúc đói ≥ 126 mg/dL (7,0 mmol/L). 
 
2. Glucose huyết tương sau 2 giờ làm nghiệm pháp dung nạp 75g glucose ≥ 200 mg/dL (11,1 mmol/L).
 
3. Ở bệnh nhân có triệu chứng kinh điển của tăng glucose huyết, glucose huyết bất kỳ ≥ 200 mg/dL (11,1 mmol/L). 
 
4. HbA1c ≥ 6,5%. 
 
Tiêu chuẩn chẩn đoán:
 
- Có triệu chứng lâm sàng + Có 1 XN đạt tiêu chí chẩn đoán.
 
- XN đạt tiêu chí chẩn đoán ĐTĐ nhưng không có triệu chứng lâm sàng => Lặp lại XN lần thứ 2 vào ngày khác .
 
Tiền đái tháo đường:
 
- Rối loạn glucose huyết đói: Glucose huyết tương khi đói từ 100 đến 125 mg/dL (5,6 mmol/L đến 6,9 mmol/L). 
 
- Rối loạn dung nạp glucose: Glucose huyết tương 2 giờ sau uống 75g glucose (khi làm nghiệm pháp dung nạp glucose) trong khoảng 140 – 199 mg/dL (7,8 mmol/L đến 11,0 mmol/L). 
 
- HbA1c từ 5,7% đến 6,4%.
 
III. Các nguyên nhân gây khó khăn cho việc chẩn đoán sớm và chính xác ĐTĐ

1. Nguyên nhân từ việc áp dụng tiêu chuẩn chẩn đoán
 
Khi áp dụng tiêu chuẩn chẩn đoán, theo chúng tôi, có 2 vấn đề khó khăn khi thực hiện cũng như diễn giải kết quả là áp dụng tiêu chuẩn đường máu lúc đói và HbA1c
 
a. Tiêu chuẩn đường máu lúc đói 
• Nguyên nhân
 
- Nhiều bệnh nhân không nhịn ăn lúc thăm khám, hoặc nhịn ăn không đủ 8h (đặc biệt là những bệnh nhân thăm khám vào buổi chiều). Khi bệnh nhân không nhịn ăn, thường bác sĩ sẽ không cho làm xét nghiệm đường máu, và hẹn bệnh nhân làm xét nghiệm ở lần khám tiếp theo.
- Việc hẹn bệnh nhân tái khám để chẩn đoán gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là những bệnh nhân ở xa, bệnh nhân già…
 
• Giải pháp:
 
- Hoặc vẫn cho bệnh nhân xét nghiệm mẫu đường máu bất kì
 
- Xét nghiệm HbA1c (đặc biệt cho những bệnh nhân khó khăn khi thuyết phục tái khám để hoàn thành chẩn đoán}.
 
b. Tiêu chuẩn dựa vào HbA1c
• Nguyên nhân:
 
- Không phải tất cả các cơ sở y tế đều có khả năng xét nghiệm HbA1c theo đúng tiêu chuẩn.
 
- Sai lệch khi diễn giải kết quả nếu bệnh nhân có thiếu máu, không phải bác sĩ nào cũng để ý đến.
 
• Giải pháp:
 
- Chuẩn hóa xét nghiệm HbA1c, để nhiều cơ sở có khả năng xét nghiệm thông số này.
 
- Khi bệnh nhân có thiếu máu mức thì bác sĩ dựa vào tiêu chuẩn khác đề chẩn đoán. 
 
2. Nguyên nhân từ việc xác định đối tượng và tiến hành sàng lọc
 
• Khó khăn:
 
- Không phải bất cứ bác sĩ, nhân viên y tế nào cũng xác định chính xác các đối tượng cần sàng lọc chẩn đoán sớm ĐTĐ.
 
- Kể cả khi xác định đối tượng sàng lọc thì cách thức tiến hành, địa điểm,sự tham gia của chính các đối tượng cần sàng lọc vẫn là vấn đề khó khăn.
 
• Giải pháp: 
 
a. Xác định đối tượng sàng lọc

- Tuổi ≥ 45 
 
- Tiến hành sàng lọc sớm hơn cho các đối tượng:
 
- Thừa cân (BMI ≥ 23).
 
- Huyết áp trên 130/85 mmHg
 
- Trong gia đình có người mắc bệnh đái tháo đường ở thế hệ cận kề (bố, mẹ, anh, chị em ruột, con ruột bị mắc bệnh đái tháo đường týp 2).
 
- Tiền sử được chẩn đoán mắc hội chứng chuyển hóa, tiền đái tháo đường (suy giảm dung nạp đường huyết lúc đói, rối loạn dung nạp glucose).
 
- Phụ nữ có tiền sử thai sản đặc biệt (đái tháo đường thai kỳ, sinh con to – nặng trên 3600 gam, sảy thai tự nhiên nhiều lần, thai chết lưu).
 
- Người có rối loạn Lipid máu.
 
- Hôi chứng buồng trứng đa nang
 
- Tiền sử bệnh lí mạch máu
 
b. Phương thức tiến hành sàng lọc

- Tuyên truyền đóng vai trò quan trọng: về sự cần thiết thăm khám sức khỏe định kì, ũng như vai trò của chẩn đoán sớm ĐTĐ.
 
- Tiến hành sàng lọc tại các tuyến Y tế cơ sở: tuyến xã, tuyến huyện và các phòng khám bệnh đa khoa, chuyên khoa.Đảm báo tất cả các đối tượng trên đều được sàng lọc chẩn đoán.
 
- Khi có khó khăn trong chẩn đoán ĐTĐ thì gửi bệnh nhân đến cơ sở chuyên khoa.
 
- Tại các phòng khám, khoa khám bệnh hay các phòng điều trị ở tất cả các tuyến điều trị.
 
- Lồng ghép chương trình ĐTĐ với các chương trình khác như: THA, quản lí thai kì, chương trình tư vấn dinh dưỡng…

c. Thông số dùng để sàng lọc chẩn đoán
- Thăm khám lâm sàng
 
- Đường máu lúc đói.
 
- Nghiệm pháp tăng đường huyết.

3. Quản lí, theo dõi nhóm bệnh nhân được chẩn đoán tiền ĐTĐ
 
• Khó khăn
 
- Cả bác sĩ và bệnh nhân không phải ai cũng hiểu về các nguy cơ trong tương lai, nên hầu hết vẫn coi đây là nhóm bình thường.
 
- Thực tế, nhóm đối tượng này có nguy cơ xuất hiện các biến chứng mạch máu lớn của đái tháo đường, và trong tương lai có nhiều khả năng sẽ diễn tiến đến bệnh đái tháo đường thực sự. 
 
- Việc quản lí nhóm bệnh nhân này rất quan trọng, tuy nhiên còn gặp nhiều khó khăn. Vì vậy, các đối tượng này thường không được tư vấn tái khám, theo dõi thường xuyên để phát hiện ĐTĐ sớm trong tương lai.
 
• Giải pháp 
 
- Đưa các nhóm đối tượng này vào danh sách quản lí của phòng khám, cơ sở y tế.
 
- Thành lập các câu lạc bộ, diễn đàn, có sự tham gia của nhân viên y tế để nâng cao hiểu biết, cũng như tuân thủ của họ.
 
- Xây dựng đội ngũ thư kí y khoa tại cá phòng khám, cơ sở y tế trực tiếp liên lạc, tư vấn bệnh nhân tái khám, theo dõi định kì. 
 
- Lập các đường dây tư vấn cho bệnh nhân, đảm bảo việc tái khám của bệnh nhân tiến hành thuận tiện nhất.

10 hoạt động nổi bật trong tháng


Quảng cáo