NÂNG CAO TỶ LỆ PHÁT HIỆN SỚM VÀ ĐIỀU TRỊ KỊP THỜI BỆNH SA SÚT TRÍ TUỆ TRONG CỘNG ĐỒNG

Cập nhật lúc : 15/06/2016 09:23

“NÂNG CAO TỶ LỆ PHÁT HIỆN SỚM  
VÀ ĐIỀU TRỊ KỊP THỜI BỆNH SA SÚT TRÍ TUỆ TRONG CỘNG ĐỒNG”
 
BSCKII NGUYỄN THỊ THANH THUỶ
BSCKI LƯƠNG THỊ PHI YẾN
CN TIN HỌC LÊ TRẦN ÂN
I.ĐẶT VẤN ĐỀ
 
Nhờ sự cải thiện không ngừng của điều kiện sống, các thành tựu xã hội và đặc biệt là sự tiến bộ vượt bậc của y khoa, cuộc sống của con người ngày càng kéo dài hơn giới hạn mong đợi trước đây. Ở Việt Nam, tuổi thọ người Việt Nam đã được nâng cao rõ rệt, người cao tuổi đang chiếm khoảng 10% trên tổng dân số cả nước và được dự báo là sẽ tăng và chiếm 26% trong 25 năm tới. Tuy nhiên, sống lâu không đồng nghĩa với sống khoẻ mạnh. Làm sao để có thể bảo đảm được sức khỏe cho người cao tuổi, để họ được tuổi già trọn vẹn và lành mạnh nhất sau một thời gian dài làm việc để cống hiến cho xã hội và gia đình. 
 
Khi người ta càng già, các bệnh lý mạn tính càng gia tăng, sa sút trí tuệ là một bệnh lý rất phổ biến ở người lớn tuổi với khoảng 25 triệu người trên thế giới bị sa sút trí tuệ, mỗi 5-9 giây lại có một ca mới mắc. Như vậy, sa sút trí tuê đang là một căn bệnh đáng báo động của thế kỷ XXI.Đây là một tình trạng bệnh nặng đe doạ cuộc sống và chất lượng của người cao tuổi; đồng thời cũng là gánh nặng đối với gia đình người bệnh và xã hội. Đặc trưng lâm sàng của sa sút trí tuệ là một tình trạng suy giảm nhiều chức năng nhận thức bao gồm: tập trung, trí nhớ, học tập, ngôn ngữ, điều hành, vận động trí tuệ và nhận thức xã hội. Các triệu chứng này gây suy giảm và trở ngại đáng kể cho các hoạt động sống hàng ngày của cá thể. Họ dường như không còn là bản thân họ trước đây, mọi hoạt động hằng ngày của người bệnh phụ thuộc hoàn toàn vào người chăm sóc và làm ảnh hưởng luôn đến công việc và tinh thần của người chăm sóc. 
 
Tuy nhiên rất nhiều trường hợp sa sút trí tuệ không được chẩn đoán vì phần lớn những thay đổi ban đầu của sa sút trí tuệ được phát hiện đầu tiên bởi người thân nhưng nhiều người quan niệm rằng đó là diễn biến tự nhiên của quá trình lão hóa, quên là hậu quả tất yếu của tuổi già. Chính bởi nhận thức đó mà cộng đồng có thái độ "bình thường hóa" và chấp nhận đối với các triệu chứng bệnh, đặc biệt là những triệu chứng thời kỳ đầu. Điều này trở thành rào cản trong tiếp cận dịch vụ y tế về sức khỏe tâm thần của người cao tuổi mắc sa sút trí tuệ. Bên cạnh đó, không thể không nói đến vai trò của các bác sĩ đa khoa trong chẩn đoán sa sút trí tuệ, có rất nhiều bệnh nhân sa sút trí tuệ tiếp cận với các bác sĩ đa khoa vì những bệnh lý khác nhưng đã bị bỏ qua. Đối với các bác sĩ không làm về chuyên khoa thần kinh thì việc đánh giá chức năng nhận thức còn gặp nhiều khó khăn, do đó họ thường không tiến hành đánh giá chức năng nhận thức của người bệnh thường quy, thậm chí ngay cả khi bệnh nhân than phiền về vấn đề suy giảm nhận thức của họ. Thêm và đó tình trạng quá tải ở các bệnh viện cũng góp phần làm các bác sĩ bỏ qua một tỷ lệ lớn bệnh nhân bị sa sút trí tuệ cần được chẩn đoán và điều trị sớm.
 
Việc phát hiện và điều trị bệnh sớm sẽ giúp cải thiện chất lượng cuộc sống đáng kể cho người bệnh cũng như giảm gánh nặng cho người chăm sóc. Vậy làm sao để có nhiều cơ hội phát hiện bệnh nhân sa sút trí tuệ? Đó là một yêu cầu cấp bách.
 
Ở Việt Nam cũng cần có các chương trình sàng lọc và phát hiện sớm dấu hiệu của bệnh sa sút trí tuệ để có những can thiệp sớm nhằm làm chậm sự tiến triển của bệnh. Muốn vậy, chúng ta phải đơn giản hóa chẩn đoán sa sút trí tuệ để người nhà bệnh nhân, các bác sĩ không làm về thần kinh, thậm chí là bản thân bệnh nhân vẫn có thể đánh giá được. Nên có những thang điểm đánh giá ngắn gọn, dễ hiểu, được xây dựng sinh động và gần gũi để phát hiện sớm sa sút trí tuệ và cần có những thông điệp đơn giản và những chương trình hành động thiết thực gửi đến nhằm đánh động nhận thức của cộng đồng về sự nguy hiểm cũng như gánh nặng mà bệnh sa sút trí tuệ mang lại cho bản thân người bệnh, cho cộng đồng và cho toàn xã hội. 
 
Bên cạnh đó, sự lớn mạnh của nền kinh tế toàn cầu, sự phát triển của khoa học và công nghệ, đặc biệt, Internet ra đời đã làm thay đổi cuộc sống và cách thức làm việc của con người. Với sự lên ngôi của mạng xã hội con người ngày nay đã nhanh chóng tiếp nhận được rất nhiều thông tin và ngược lại thông tin ở mọi lãnh vực sẽ được tuyên truyền với tốc độ nhanh chóng thông qua mạng xã hội. Mạng xã hội đã trở thành một phần không thể thiếu trong đời sống của những cư dân mạng mang quốc tịch Việt Nam, đến tháng 8/2013, tại Việt Nam đã có 19,6 triệu người dùng Facebook, chiếm 21,42% dân số và chiếm tới 71,4% người sử dụng Internet. Số lượng thành viên của các mạng xã hội, đặc biệt là Facebook, gia tăng mỗi ngày với tốc độ khủng khiếp cho thấy sự lên ngôi của cái gọi là mạng xã hội ảo.
 
Xuất phát từ nhận định trên về căn bệnh sa sút trí tuệ cũng như về sự phát triển-tầm quan trọng của mạng xã hội trong việc tuyên truyền thông tin, chúng tôi đề ra giải pháp giúp “NÂNG CAO TỶ LỆ PHÁT HIỆN SỚM VÀ ĐIỀU TRỊ KỊP THỜI BỆNH SA SÚT TRÍ TUỆ TRONG CỘNG ĐỒNG”. Mục tiêu giải pháp: thông qua mạng xã hội
 
- Giúp cộng động tiếp cận dễ dàng phương pháp phát hiện bệnh.
 
- Giúp cộng đồng tự xây dựng chương trình hành động cho mình và cho người thân bị mắc bệnh. 
 
 
II.TỔNG QUAN TÀI LIỆU
 
2.1.Khái niệm về sa sút trí tuệ:
 
Theo định nghĩa của Tổ chức Y tế thế giới : “ Sa sút trí tuệ là sự phối hợp rối loạn tiến triển về trí nhớ và quá trình ý niệm hoá ở mức độ gây tổn hại đến hoạt động sống hàng ngày, xuất hiện tối thiểu trong 6 tháng qua với rối loạn ít nhất 1 trong những chức năng như ngôn ngữ, tính toán, phán đoán, rối loạn tư duy trừu tượng, điều phối động tác, nhận biết hoặc biến đổi nhân cách”.
 
2.2. Dấu hiệu và triệu chứng chính của bệnh sa sút trí tuệ:
 
- Tính hay quên liên tục và tăng dần.
 
- Khó khăn trong suy nghĩ trừu tượng.
 
- Khó khăn trong tìm kiếm ngôn từ chính xác để diễn đạt.
 
- Mất khả năng phân tích và suy xét.
 
- Thực hiện các công việc quen thuộc khó khăn.
 
- Thay đổi nhân cách.
 
Quá trình bệnh lý xảy ra nhanh hay chậm tùy thuộc rất nhiều vào từng cá thể. Từ triệu chứng quên đơn giản đến lúc sa sút trí tuệ nặng nề có thể kéo dài 5 năm, nhưng cũng có người đến 10 năm hoặc lâu hơn. Bệnh sa sút trí tuệ thường diễn tiến từ nhẹ đến vừa, đến nặng. Bệnh nhân còn ở giai đoạn nhẹ thường có thể sống một mình được và có thể xử lý công việc khá tốt. Ở giai đoạn vừa người bệnh sẽ gặp khó khăn lớn nếu không có người giúp đỡ; còn ở giai đoạn cuối thường không thể tự chăm sóc bản thân họ được.
 
2.3.Nguyên nhân:
 
- Nguyên nhân gây bệnh sa sút trí tuệ hiện vẫn chưa rõ ràng. Các nhà khoa học đã khám phá ra trong não các bệnh nhân sa sút trí tuệ có nhiều tế bào bị chết hoặc tổn thương nguyên nhân chưa được biết.
 
- Trên bệnh nhân sa sút trí tuệ, các nơ-ron trong não bộ chết một cách từ từ, gây giảm nồng độ các chất dẫn truyền thần kinh và rối loạn các tín hiệu trong não.
 
- Các chuyên gia cũng đã khảo sát vai trò của gen trong bệnh sa sút trí tuệ. Sự hiện diện của một số dị tật gen nào đó làm tăng nguy cơ phát bệnh sa sút trí tuệ. Một số nhà khoa học tin rằng việc nhiễm các loại virus phát triển chậm gây viêm não cũng có liên quan.
 
2.4.Yếu tố nguy cơ
 
- Tuổi tác: bệnh thường xuất hiện ở bệnh nhân trên 65 tuổi.
 
- Yếu tố di truyền
 
- Nghiện rượu, xơ vữa động mạch, tăng huyết áp, rối loạn lipid máu, trầm cảm, đái tháo đường, hút thuốc lá…
 
2.5. Biến chứng
 
- Ở sa sút trí tuệ giai đoạn nặng, bệnh nhân mất tất cả các khả năng tự chăm sóc cho bản thân. Họ ăn uống khó khăn, không kềm chế hoặc không thể kiểm soát bước đi và thường đi lang thang khỏi nhà.
 
- Hầu hết bệnh nhân sa sút trí tuệ không tử vong do bệnh chính mà thường do các bệnh kèm theo:
 
+Viêm phổi: Khó nuốt thức ăn và các dịch uống làm bệnh nhân dễ hít các chất này vào phổi, gây ra viêm phổi hít. 
 
+Nhiễm trùng: Bệnh nhân thường đi tiểu không tự chủ nên phải đặt thông tiểu, làm tăng nguy cơ nhiễm trùng đường niệu, nếu không được điều trị sẽ càng nặng hơn, có thể đe dọa mạng sống bệnh nhân.
 
+ Té ngã và các biến chứng:Người bệnh thường bị mất định hướng và dễ dàng bị vấp ngã, làm tăng nguy cơ gãy xương. Hơn nữa, té ngã thường làm chấn thương đầu nặng, như xuất huyết nội sọ, bệnh nhân phải chịu phẫu thuật nằm viện dài ngày, càng làm tăng nguy cơ huyết khối trong não, tim, phổi, loét da do tư thế,…tất cả đều đe dọa mạng sống người bệnh.
 
+ Suy dinh dưỡng…
 
2.6. Tầm soát và chẩn đoán: dựa vào nhiều yếu tố sau
 
- Tiền sử bệnh.
 
- Các trắc nghiệm tâm thần.
 
- Kiểm tra não bộ bằng chụp cắt lớp điện toán CT scan, chụp cộng hưởng từ hạt nhân MRI, chụp phát xạ positron PET, dựa vào đó có thể định vị được những bất thường có thể thấy được.
 
III. NỘI DUNG GIẢI PHÁP:
 
3.1. Xây dựng phần form ứng dụng tầm soát, sàng lọc nhằm đo lường tình trạng suy giảm nhận thức.
 
- Mục đích: giúp mọi người trong cộng đồng có thể tự đánh giá cho bản thân và người thân trong gia đình về tình trạng tâm thần kinh của mình.
 
- Cơ sở khoa học: dựa vào “Thang điểm đánh giá trạng thái tâm thần kinh thu nhỏ, viết tắt là MMSE (Mini-Mental State Examination)” là phương tiện tầm soát, sàng lọc nhằm đo lường tình trạng suy giảm nhận thức trên lâm sàng thỏa mãn được những yêu cầu mà chúng ta đề ra. Đây là thang điểm do Folstein mô tả từ 1975, rất ngắn gọn-gồm 11 mục, thời gian làm trắc nghiệm không qua nhiều- chỉ từ 7-10 phút, thang điểm từ 0-30, với độ nhạy và độ đặc hiệu lần lượt là 90,9%; 93,1%. 
(xem phụ lục 1).
 
- Xây dựng form ứng dụng theo phương pháp: .net, excel.
 
3.2.Xây dựng chương trình hành động sau khi có dấu hiệu suy giảm nhận thức qua test sàng lọc MMSE.

3.2.1.Mục đích: giúp người thân bệnh nhân cũng như bản thân người bệnh (giai đoạn đầu) nhận biết tầm quan trọng của việc chăm sóc, điều trị và phòng ngừa các biến chứng của bệnh.
 
3.2.2.Nội dung:
 
- Chúng ta làm gì sau khi tự đánh giá tình trạng suy giảm nhận thức qua thang điểm MMSE.
 
+Bạn hãy đi đến cơ sở y tế để được thăm khám và tư vấn nếu thang điểm MMSE của bạn ≤ 25.
 
+ Đừng chần chờ gì nữa, hãy nhanh chóng đi đến cơ sở y tế để được thăm khám và tư vấn nếu thang điểm MMSE của bạn ≤ 20.
 
+ Hãy lập tức đi đến cơ sở y tế để được thăm khám và tư vấn nếu thang điểm MMSE của bạn ≤ 10, đừng để quá muộn.
 
- Cách tự chăm sóc bản thân và người nhà khi mắc bệnh suy giảm nhận thức: 
 
.Điều chỉnh môi trường sống.
 
.Sửa đổi nhiệm vụ.
 
.Khuyến kích tập thể dục.
 
.Khuyến khích tham gia các trò chơi và hoạt động tư duy.
 
.Hướng dẫn cách tạo giấc ngủ tốt.
 
.Hạn chế dùng chất kích thích.
 
.Khuyến khích có sổ ghi chép những điều cần nhớ.
 
.Lập danh sách các số điện thoại cần gọi: số cấp cứu…
 
.Giữ thuốc, chìa khoá, tiền bạc ở nơi an toàn.
 
- Cách phòng ngừa các biến chứng bệnh.
 
- Cách phòng chống bệnh.
 
. Hoạt động trí óc thường xuyên, giữ tinh thần ổn định thoải mái.
 
. Hoạt động thể chất và hoạt động xã hội
 
. Kiểm soát huyết áp, đường và cholesterol trong máu, ăn uống lành mạnh, không hút thuốc.
 
. Duy trì một chế độ ăn uống lành mạnh: chế độ ăn uống giàu trái cây, rau và các axit béo omega-3 được tìm thấy trong một số thường cá và các loại hạt, có thể thúc đẩy sức khỏe tổng thể và giảm nguy cơ phát triển sa sút trí tuệ.
 
3.3.Giúp cộng đồng tiếp cận thông tin bệnh: 
3.3.1.Mục đích: tuyên truyền rộng rãi về gánh nặng của bệnh sa sút trí tuệ cũng như tầm quan trọng trong việc phát hiện và điều trị sớm bệnh lý này.
 
3.3.2.Phương pháp tiến hành:
 
- Xây dựng form ứng dụng hoặc web form theo tiêu chí đánh giá tình trạng nhận thức.
 
- Xử lý kết quả theo sự lựa chọn của người dùng theo thang điểm quy định của tiêu chí đánh giá nhận thức.
 
- Kết xuất kết quả của người dùng ra màn hình theo mức độ điểm mà người dùng đạt được.
 
- Kiểm chứng các kết quả tính toán từ ứng dụng có tính chính xác và độ tin cậy.
 
- Chia sẻ ứng dụng đánh giá tình trạng nhận thức rộng rã trên internet để mọi người có thể tải xuống sử dụng.
 
Phụ lục
 
Thang điểm đánh giá trạng thái tâm thần kinh thu nhỏ, viết tắt là MMSE (Mini-Mental State Examination) là phương tiện tầm soát, sàng lọc nhằm đo lường tình trạng suy giảm nhận thức trên lâm sàng thỏa mãn được những yêu cầu mà chúng ta đề ra. Đây là thang điểm do Folstein mô tả từ 1975, rất ngắn gọn-gồm 11 mục, thời gian làm trắc nghiệm không qua nhiều- chỉ từ 7-10 phút, thang điểm từ 0-30, với độ nhạy và độ đặc hiệu lần lượt là 90,9%; 93,1%. 
 
Lưu ý trước khi tiến hành đánh giá:
 
I. ĐỊNH HƯỚNG:
 
 Hôm nay thứ mấy …../1đ
 
 Ngày mấy …../1đ
 
 Tháng mấy …../1đ
 
 Năm nào …../1đ
 
 Mùa gì …../1đ
 
 Chúng ta hiện đang ở chỗ này là chỗ nào? …../1đ
 
 Khoa gì …../1đ
 
 Tỉnh/thành phố nào …../1đ
 
 Miền nào …../1đ
 
 Nước nào …../1đ
 
…../10đ
 
II. GHI NHỚ:
 
Nói tên 3 vật (mỗi vật 1 giây) sau đó yêu cầu bệnh nhân lặp lại
 
 Con mèo …../1đ
 
 Cây lúa …../1đ
 
 Đồng xu …../1đ
 
…../3đ
 
Nếu bệnh nhân không lặp lại đúng 3 từ thì sau khi cho điểm lần 1, ta nhắc lại cho đến khi bệnh nhân thuộc.
 
III. SỰ TẬP TRUNG CHÚ Ý VÀ TÍNH TOÁN:
 
Làm phép trừ 7
 
 100-7 = ? G …../1đ
 
 93-7 = ? N …../1đ
 
 86-7 = ? Ô …../1đ
 
 79-7 = ? H …../1đ
 
 72-7 = ? K …../1đ
 
…../5đ
 
Nếu bệnh nhân không làm toán được (<3) thì yêu cầu bệnh nhân đánh vần ngược chữ KHÔNG
 
IV. NHỚ LẠI:
 
Yêu cầu bệnh nhân lặp lại 3 từ đã thuộc (không cần đúng thứ tự)
 
 Con mèo …../1đ
 
 Cây lúa …../1đ
 
 Đồng xu …../1đ
 
…../3đ

V. NGÔN NGỮ:
 
 Đưa và yêu cầu nói tên của Đồng hồ …../1đ
 
 Hỏi cái này là cái gì Cây viết …../1đ
 
 Yêu cầu lặp lại câu (1 lần) “không có nếu và hoặc nhưng” …../1đ
 
 Yêu cầu thực hiện động tác (mỗi động tác 1đ)
 
“cầm tờ giấy bằng tay phải; gấp đôi lại; rồi đưa cho tôi …../3đ
 
 Yêu cầu đọc thầm và thực hiện những gì ghi trên giấy
 
“HÃY NHẮM MẮT LẠI” …../1đ
 
 Yêu cầu viết một câu có nghĩa …../1đ
 
 Yêu cầu vẽ hình ngũ giác giao nhau …../1đ
 
…../9đ
 
Sau khi tính tổng điểm, sẽ có các mức đô gợi ý đánh giá tình trạng nhận thức:
 
 Từ 25 – 30: không suy giảm nhận thức.
 
 Từ 20 – 25: suy giảm nhẹ 
 
 Từ 10 – 20: suy giảm trung bình.
 
 Dưới 10 : suy giảm nặng 
 
 

10 hoạt động nổi bật trong tháng


Quảng cáo