Giải pháp giúp phát hiện sớm bệnh nhân đái tháo đường, giảm số lượng bệnh nhân chưa được chẩn đoán hiện nay

Cập nhật lúc : 15/06/2016 08:58

Giải pháp giúp phát hiện sớm bệnh nhân đái tháo đường, 
giảm số lượng bệnh nhân chưa được chẩn đoán hiện nay

Người dự thi: BS Chu Lý Hải Vân.
Đơn vị: Khoa Nội tiết – Bệnh viện Nguyễn Trị Phương. TP Hồ Chí Minh.

I. Thực trạng bệnh Đái tháo đường tại Thế giới và Việt Nam:
 
Theo Hiệp hội đái tháo đường Thế giới (IDF), vào năm 2013 số người bị Đái tháo đường trên thế giới là 382 triệu người và đến năm 2035 con số này sẽ tăng lên 592 triệu người.Trong đó bệnh ĐTĐ típ 2 chiếm từ 85 – 90% tỷ lệ bệnh nhân ĐTĐ ở các quốc gia. Bệnh nhân ĐTĐ típ 2 thường không biểu hiện triệu chứng lâm sàng trong nhiều năm, do đó bệnh thường phát hiện muộn. Theo thống kê của IDF, trên toàn thế giới có khoảng 50% bệnh nhân ĐTĐ chưa được chẩn đoán. Tại các nước thuộc khu vực Đông Nam Á, số liệu ghi nhận được là gần 44% [6]
 
Trong bài báo cáo về Kết quả sơ bộ hoạt động điều tra lập bảng đồ dịch tễ học bệnh Đái tháo đường toàn quốc năm 2012 của Viện Nội tiết Trung Ương cho thấy tỷ lệ mắc bệnh ĐTĐ sau 10 năm (2002-2012) tăng từ 2,7% lên 5,7% tăng 211%, đây là tỷ lệ báo động về gia tăng tỷ lệ bệnh ĐTĐ tại Việt Nam. Điều tra cũng chỉ ra một thực trạng đáng quan tâm ở nước ta khi tỷ lệ người bệnh mắc ĐTĐ trong cộng đồng không được phát hiện khá cao là 63,6% [1] Những bệnh nhân ĐTĐ típ 2 chẩn đoán muộn khi phát hiện bệnh có thể đã xuất hiện các biến chứng của tình trạng tăng đường huyết mạn tính từ đó để lại những gánh nặng về mặt thể chất cũng như kinh tế cho bệnh nhân, gia đình và xã hội. Do vậy, việc phát hiện sớm bệnh ĐTĐ, giảm số lượng bệnh nhân chưa được chẩn đoán là vô cùng quan trọng đối với ngành y tế của mỗi quốc gia trong tình hình bệnh ĐTĐ bùng nổ như hiện nay.
 
II. Tầm quan trọng của việc chẩn đoán và điều trị sớm bệnh Đái tháo đường:
 
Sự bùng phát của bệnh ĐTĐ cùng với những biến chứng của nó là gánh nặng lớn cho nền kinh tế và xã hội của một quốc gia.Trong năm 2013, toàn thế giới đã tiêu tốn gần 548 tỷ đô la Mỹ để điều trị bệnh ĐTĐ [6].Bệnh võng mạc ĐTĐ là nguyên nhân hàng đầu gây mù lòa ở những người từ 20-70 tuổi, đây là những người đang trong độ tuổi lao động[3]. ĐTĐ cũng là nguyên nhân thường gặp nhất của bệnh thận mạn giai đoạn cuối ở Mỹ và các nước Châu Âu. Tại Mỹ bệnh thận do ĐTĐ chiếm 40% trong số những ca bệnh thận mạn giai đoạn cuối mới phát hiện và vào năm 1997, nước này tốn hơn 15,6 tỷ đô la để chi trả cho điều trị thay thế thận [5]. Biến chứng thần kinh cũng là một trong những biến chứng quan trọng của bệnh ĐTĐ, 80% trường hợp đoạn chi sau loét có nguyên nhân là do biến chứng thần kinh đái tháo đường , gây ra sự tàn phế cũng như những ảnh hưởng nghiêm trọng đến tinh thần của bệnh nhân. Cùng với tăng huyết áp, rối loạn lipid máu, lối sống tĩnh tại, hút thuốc lá,…ĐTĐ là một yếu tố nguy cơ quan trọng của bệnh lý tim mạch. Đây cũng là nguyên nhân tử vong hàng đầu trên bệnh nhân ĐTĐ típ 1 cũng như típ 2 [4].Tác giả William H. Herman và cstrong một báo cáo vào năm 2015 cho thấy rằng: nếu bệnh nhân ĐTĐ được chẩn đoán và điều trị trễ 3 năm so với nhóm điều trị thường quy thì tỷ lệ mắc các bệnh lý tim mạch trong 5 năm là 11,2% so với 7,9%. Nhóm bệnh nhân được tầm soát và điều trị sớm ngay từ đầu giúp làm giảm nguy cơ tuyệt đối (ARR) các biến cố tim mạch là 3,8 % và 4,9% so với nhóm bệnh nhân được chẩn đoán và điều trị trễ từ 3- 6 năm [7]. Những số liệu trên cho thấy sự cần thiết của việc phát hiện và điều trị sớm bệnh ĐTĐ.
 
III. Phân tích nguyên nhân tỷ lệ bệnh nhân chưa được chẩn đoán Đái thái đường còn cao ở Việt Nam:
 
Đa số bệnh nhân ĐTĐ tại Việt Nam là ĐTĐ típ 2, theo y văn bệnh ĐTĐ típ 2 thường không có triệu chứng và bệnh nhân có thể sống với tình trạng tăng đường huyết kéo dài nhiều năm trước khi được chẩn đoán và phát hiện bệnh, do đó bệnh thường phát hiện và điều trị muộn.
 
Kiến thức về bệnh ĐTĐ của người dân còn rất thấp trong đó 75,5% số đối tượng có kiến thức rất thấp, 20,7% có kiến thức thấp, 3,4% có kiến thức trung bình – khá và chỉ có 0,5% có kiến thức tốt trong một cuộc khảo sát quốc gia về bệnh ĐTĐ. Kiến thức có sự khác biệt giữa các vùng, tỷ lệ người dân có kiến thức rất thấp ở miền núi phía Bắc và miền Tây Nam Bộ chiếm đến hơn 90%. Chỉ có khoảng 67,3 % người dân trên toàn quốc được nghe các thông tin truyền thông về bệnh ĐTĐ, trong đó người dân vùng Tây Nguyên được tiếp cận thông tin với tỷ lệ cao nhất (84,3%), thấp nhất là người dân miền núi phía Bắc và khu vực Tây Nam Bộ (42,5% và 55,8%) [1]. 
 
Từ năm 2009 đến năm 2012, khi triển khai Dự án Phòng chống ĐTĐ quốc gia trên phạm vi toàn quốc, Viện Nội tiết Trung ương đã tiến hành sàng lọc ở các địa điểm được coi là có yếu tố nguy cơ cao ở nước ta, mặc dù giúp phát hiện sớm được hàng chục nghìn trường hợp trường hợp mắc ĐTĐ và tiền ĐTĐ tại cộng đồng, tuy nhiên các tác giả ghi nhận tỷ lệ đối tượng có nguy cơ cao bị ĐTĐ tham gia sàng lọc vẫn còn thấp, chủ yếu là do nhận thức của người dân về bệnh ĐTĐ vẫn còn hạn chế.
 
IV. Giải pháp giúp phát hiện sớm bệnh nhân Đái tháo đường:
 
Như vậy để giảm số lượng bệnh nhân ĐTĐ chưa được chẩn đoán như hiện nay chúng ta cần phải:
 
- Nâng cao nhận thức người dân về bệnh ĐTĐ.
 
- Nhân rộng các chương trình sàng lọc bệnh ĐTĐ trong cộng đồng.

1) Nâng cao nhận thức người dân về bệnh ĐTĐ:
 
Một trong những đối tượng chúng ta dễ tác động là người thân của những bệnh nhân bị ĐTĐ đang điều trị tại các cơ sở y tế vì họ thấy được những hậu quả thật sự của bệnh ĐTĐ đối với người thân của mình. Những câu lạc bộ dành cho thân nhân bệnh nhân mắc bệnh ĐTĐ đang điều trị tại các khoa lâm sàng nên tổ chức ít nhất 1 lần/ tuần nhằm phổ biến các kiến thức về bệnh ĐTĐ, khuyến khích những đối tượng này tầm soát bệnh sớm cũng như họ sẽ là những tuyên truyền viên tích cực về bệnh ĐTĐ đối với những người xung quanh: họ hàng, hàng xóm, đồng nghiệp,bạn bè,…Nên thiết kế những tờ bướm với khẩu hiệu như : “ BẠN CÓ THỂ ĐANG BỊ ĐÁI THÁO ĐƯỜNG MÀ BẠN KHÔNG BIẾT” với nội dung nêu rõ những đối tượng nguy cơ cao bị ĐTĐ và các biến chứng mà bệnh ĐTĐ gây ra để thân nhân bệnh nhân có thể mang về phổ biến cho những người xung quanh.
 
Biểu đồ 1. Lấy thân nhân bệnh nhân mắc bệnh ĐTĐ làm trung tâm
 
Tại các công ty, cơ quan đoàn thể có tham gia bảo hiểm y tế, việc khám sức khỏe định kì hằng năm nên bổ sung thêm xét nghiệm đường huyết lúc đói cho tất cả các đối tượng trên 45 tuổi cũng như những đối tượng có nguy cơ cao bị ĐTĐ. Những buổi tuyên truyền phối hợp giữa ngành y tê địa phương và cơ quan đoàn thể nên được tổ chức thường xuyên nhằm nâng cao nhận thức của người lao động về bệnh ĐTĐ, khuyến khích họ chủ động tầm soát, phát hiện sớm bệnh ĐTĐ.
 
2) Nhân rộng các chương trình sàng lọc bệnh ĐTĐ trong cộng đồng:
 
Theo khuyến cáo của ADA, xét nghiệm tầm soát bệnh ĐTĐ tốt nhất là xét nghiệm đường huyết tương lúc đói do tính tiện lợi và kinh tế của nó. Tuy nhiên, tại Việt Nam đối với những chương trình tầm soát mở rộng việc sử dụng xét nghiệm đường huyết tương lúc đói có một số hạn chế như: đối tượng sàng lọc phải đợi để biết kết quả (trung bình khoảng 1 tiếng), cần nhân lực có chuyên môn để lấy máu xét nghiệm cũng như các dụng cụ chuyên dùng để lưu trữ và phân tích kết quả. Do đó việc sử dụng đường huyết mao mạch lúc đói để tầm soát bệnh ĐTĐ khá phù hợp với các chương trình tầm soát miễn phí ở nước ta do: thời gian biết kết quả ngắn, thao tác xét nghiệm đơn giản, dụng cụ xét nghiệm nhỏ gọn có thể vận chuyển đến những khu vực đông dân cư. Theo báo cáo của WHO vào năm 2002, tại Brazil và Mexico là 2 quốc gia có chương trình tầm soát ĐTĐ khá thành công thì công cụ tầm soát đầu tiên là đường huyết mao mạch, đường huyếttương lúc đói và nghiệm pháp dung nạp glucose được sử dung để xác định chẩn đoán đối với những bệnh nhân có kết quả đường huyết nghi ngờ bị ĐTĐ .Dự án Phòng chống ĐTĐ quốc gia do Viện Nội tiết Trung ương tiến hành từ năm 2009 đến năm 2012 cũng sử dụng xét nghiệm đường huyết mao mạch là công cụ tầm soát đầu tiên (sử dụng máy đo glucose máu SURSTEP của hãng Johson and Johnson)
 
+ Glucose máu lúc đói < 5,6 mmol/L: Bình thường
 
+ Nếu glucose máu lúc đói từ: 5,6mmol/l đến 6,9mmol/l: xác định có rối loạn glucose máu lúc đói, cần làm thêm nghiệm pháp dung nạp glucose (NPDNG).
 
+ Glucose máu lúc đói ≥ 7,0 mmol/l: Chuyển đến cơ sở Y tế, nơi có thể tiến hành xét nghiệm lại glucose huyết tương vào một ngày khác để chẩn đoán xác định bệnh ĐTĐ.
 
Việc sử dụng đường huyết mao mạch lúc đói thay cho đường huyết tương lúc đói giúp cho các chương trình tầm soát ĐTĐ mở rộng tiếp cận với số lượng người dân lớn hơn từ đó có thể làm tăng số lượng bệnh nhân ĐTĐ được phát hiện.
 
Đối tượng sàng lọc là những người có nguy cơ cao bị ĐTĐ theo Hiệp hội Đái tháo đường Hoa Kỳ (2016) :
 
a. Người Châu Á có BMI ≥ 23 kg/m2 và có thêm một trong các yếu tố nguy cơ sau:
 
- Lối sống ít vận động.
 
- Tiền sử gia đình có người thân trưc hệ bị ĐTĐ.
 
- Phụ nữ đã được chẩn đoán ĐTĐ thai kì hay tiền sử sanh con > 3,6 kg.
 
- Tăng huyết áp ( HA ≥ 140/90 mmHg hay đang điều trị THA)
 
- Rối loạn lipid máu ( HDL- Cholesterol ≤ 35 mg/dL hay Triglyceride ≥ 250 mg/dL).
 
- Phụ nữ mắc bệnh buồng trứng đa nang.
 
- Có tình trạng đề kháng insulin (béo phì nặng, gai đen)
 
- Tiền căn bệnh mạch vành.
 
b. Tất cả bệnh nhân ≥ 45 tuổi.
 
V. Kết luận:
 
Sự bùng nổ và những hậu quả mà bệnh Đái tháo đường đem lại cho nhân loại cho thấy tầm quan trọng của việc phát hiện và điều trị sớm căn bệnh này. Việc nâng cao kiến thức và mối quan tâm của người dân đối với bệnh Đái tháo đường là vô cùng quan trọng để có thể gia tăng số lượng bệnh nhân Đái tháo đường được chẩn đoán. Tuy đây là một thử thách vô cùng khó khăn nhưng những lợi ích về sức khỏe cộng đồng và kinh tế mà nó đem lại là rất to lớn.

Tài liệu tham khảo:
 
1. Bệnh viện Nội tiết Trung Ương (2013), Báo cáo Hội nghị tổng kết hoạt động của Dự án phòng chống đái tháo đường quốc gia năm 2012 và triển khai kế hoạch năm 2013
 
2. Beckman J.A, Creager M.A, Libby P et al, (2002), “Diabetes and atherosclerosis: epidemiology, pathophysiology, and management”, JAMA, vol 287, pp.2570–2581.
 
3. Fong D.S et al (2003), “Diabetic Retinopathy”, Diabetes Care, vol 26(1), pp. 99-102
 
4. Laing S.P, Swerdlow A.J, Patterson C.C et al (2003), “Mortality from heart disease in a cohort of 23,000 patients with insulin-treated diabetes”, Diabetologia, vol 46, pp.760–765
 
5. Molitch M.E et al (2003), “Diabetic Nephropathy”, Diabetes Care, vol 26(1), pp. 94-98
 
6. Nam H.C, David W, Leonor G et al (2013),IDF Diabetes Atlas 6th edition
 
7. William H. Herman,Wen Yen, Simon J. Griffin, et al, (2015), “Early Detection and Treatment ofType 2 Diabetes ReduceCardiovascular Morbidity andMortality: A Simulation of the Results of the Anglo-Danish-Dutch Study of Intensive Treatment in People With Screen-Detected Diabetes in Primary Care”, Diabetes Care
 

10 hoạt động nổi bật trong tháng


Quảng cáo