BÀI DỰ THI: Cuộc thi “Giải pháp sáng tạo Y tế cộng đồng”

Cập nhật lúc : 08/06/2016 08:47

CUỘC THI 
“GIẢI PHÁP SÁNG TẠO Y TẾ CỘNG ĐỒNG”
 
1. Ghép tạng: Mỗi năm Việt Nam có tới 10000 người chờ ghép thận, thực tế chỉ có khoảng 200(5%) bệnh nhân được ghép mỗi năm mặc dù Việt Nam đã triển khai và ghép thận thành công hơn 10 năm qua.
 
- Nguyên nhân: 
 
+ Số trung tâm ghép tạng chỉ nằm tập trung các trung tâm y tế lớn của cả nước (khoảng 14 trung tâm ghép thận, chưa đến 10 trung tâm ghép gan và các tạng khác).
 
+ Ghép tạng là hoạt động y tế liên quan rất nhiều đến con người, đặc biệt đòi hỏi đội ngũ bác sĩ có trình độ cao, được đào tạo bài bản... đối với các bệnh viện nguồn nhân lực này đang rất thiếu.
 
+ Số tiền một cas ghép tạng thường rất lớn đối với người dân, chưa kể sau khi ghép cần phải uống thuốc chống thải ghép suốt đời, nếu như không có bảo hiểm y tế thì người dân không đủ khả năng chi trả .
 
+ Do nhận thức, hiểu biết của người dân về việc hiến tặng mô tạng còn lạc hậu nên nguồn hiến còn hạn chế. Việc tuyên truyền về hiến mô, tạng sau khi chết, chết não cũng còn chưa đi sâu vào người dân, chưa được nhiều người biết, hệ thống cung cấp thông tin, tư vấn và đăng ký hiến tặng còn thiếu và yếu.
+ Việc điều phối nguồn hiến tạng còn mang tính chất nhỏ lẻ cá biệt, bộc phát( chỉ ghi nhận vài trường hớp đặc biệt di chuyển tạng ghép đi xa để thực hiện ghép tạng).
 
- Giải pháp
 
+ Từng bước làm thay đổi nhận thức, hành vi của cộng đồng xã hội đối với việc hiến tặng mô, tạng; thành lập Hội vận động hiến mô, bộ phận cơ thể người Việt Nam và Hội Ghép tạng Việt Nam. Nhiệm vụ của các hội này là vận động người dân, tổ chức chính trị, xã hội hiểu được ý nghĩa nhân đạo, nhân văn của việc hiến mô, tạng, giúp người bệnh được sống
 
thành lập Quỹ Từ thiện ghép tạng để hỗ trợ bệnh nhân. 
 
+ Đào tạo có hệ thống, liên tục nhằm đáp ứng nhu cầu nhân lực y tế cả về số lượng lẫn chất lượng.
 
+ Có những hội nghị cộng động quy mô lớn quy tụ nhiều người nổi tiếng, có tiếng nói trong nhân dân, các chủ doanh nghiệp được nhân dân tin tưởng, thảo luận các vấn đề về cộng đồng trong đó có ghép tạng và đăng ký hiến tạng, như thế sẽ có tính lan tỏa cao hơn, hiệu quản hơn.
 
2. Đái tháo đường: 60% số bệnh nhân đái tháo đường chưa được chẩn đoán ( 3 triệu người)
 
- Nguyên nhân:
 
+ Hiểu biết đúng và đủ về đái tháo đường và các biến chứng của nó của một bộ phận lớn nhân dân ( chủ yếu là nông dân) còn hạn chế, mơ hồ thậm chí là sai lệch bản chất của căn bệnh này.
 
+ Tuyến y tế cơ sở chưa thực hiện được việc tuyên truyền, vận động tầm soát các vấn đề sức khỏe cộng đồng trong đó có đái tháo đường
 
+ Sự không đồng bộ trong vấn đề xét nghiệm cũng như tư vấn đường máu giữa các cơ sở y tế (tư nhân cũng như công cộng) làm bệnh nhân ngại đi khám, xét nghiệm.
 
+ Chưa có sự phát triển của hình thức bác sỹ gia đình để tư vấn sức khỏe cho đa số dân chúng
 
- Giải pháp
 
+ Tuyên truyền rộng rãi đa dạng dưới nhiều hình thức tới tất cả tầng lớp nhân dân về đái tháo đường và các nguy cơ của nó.
 
+ Phát triển mạnh và sâu rộng mô hình bác sỹ gia đình để phát hiện và kiểm soát kịp thời nhóm đối tượng nguy cơ
 
+ Tổ chức thường xuyên và có hệ thống các buổi xét nghiệm đường máu trên toàn bộ dân số có tính chất định kỳ.
 
3. Biến chứng võng mạc đái tháo đường: 
 
- Nguyên nhân
 
+ Phát hiện bệnh đái tháo đường muộn cũng như kiểm soát đường máu và các yếu tố nguy cơ kém.
+ Y tế sơ sở chưa phát huy được vai trò kiểm soát bệnh nhân đái tháo đường do thiếu đào tạo chuyên nghiệp cũng như thiếu thuốc vật tư cũng như sự tin tưởng của đại bộ phận dân số.
 
+ Chưa phát triển mạnh mô hình bác sỹ gia đình để quản lý cá thể hóa từng bệnh nhân một, cũng như phát hiện sớm biến chứng mắt ở bệnh nhân đái tháo đường
 
+ Biến chứng võng mạc ở bệnh nhân đái tháo đường phát hiện dễ nhưng điều trị khó
 
- Giải pháp
 
+ Tăng cường kiểm soát đường máu thông qua tăng cường y tế cơ sở, đẩy mạnh mô hình bác sỹ gia đình, đồng bộ hóa kỹ năng tiếp cận và kiểm soát đường máu của bệnh nhân.
 
+ Tăng cường hợp tác đào tạo trong và ngoài nước, chuyên môn hóa các chuyên sâu tại tường cơ sở điều trị từ tuyến huyện trở lên.
 
+ Tổ chức các khóa học ngắn hạn cho các bác sỹ tuyến cơ sở trong việc phân loại bệnh để có cơ sở khám và điều trị kịp thời.
 
4. Bệnh nhân sa sút trí tuệ(Alzheimer): theo ước tính của hội thần kinh học Việt Nam có tới 370.000 người mắc bệnh Alzheimer
 
- Nguyên nhân
 
+ Sự hiểu biết của bệnh nhân về căn bệnh này còn hạn chế nên những khai thác bệnh sử không đề cập tới.
 
+ Cán bộ y tế cơ sở chưa được đào tạo bài bản cũng như thường xuyên bỏ sót các dấu hiệu chú ý về hệ thần kinh, trí nhớ ( chủ quan duy ý chí : bệnh lão hóa tuổi già)
 
+ Việc chẩn đoán phải có chuyên gia được đào tạo chuyên sâu về thần kinh học.
 
- Giải pháp
 
+ Tập huấn thường xuyên vào liên tục cho y tế các tuyến cơ sở về các tiêu chuẩn chẩn đoán và phân loại bệnh.
 
+ Tầm soát trên cơ sở bảng điểm, các câu hỏi để phân loại bệnh ở những người > 60 tuổi nhằm phát hiện những người mắc hay nguy cơ mắc cao bệnh Alzheimer để tư vấn chuyên khoa kịp thời
 
+ Phát triển dịch vụ bác sỹ gia đình, đào tạo bác sỹ gia đình.
 
5. Ung thư: mỗi năm ở Việt Nam có khoảng 150.000 ca mới mắc và trên 75.000 ca tử vong do ung thư, đa số các trường hợp tử vong do phát hiện muộn
 
- Nguyên nhân
 
+ Người dân ngại đi khám sức khỏe định kỳ, đến khi bệnh thật nặng rồi mới đi khám, lúc này bệnh đã nặng.
 
+ Chế độ ăn uống chưa hợp lý, thực phẩm chế biến không đúng cách , thực phẩm bẩn, môi trường ô nhiễm cũng là nguyên nhân của nhiều căn bệnh ung thư.
 
+ Y tế cơ sở không đủ trang thiết bị cũng như kinh nghiệm để phát hiện cũng như thăm dò các dấu hiệu nghi ngờ ung thư sớm
 
+ Các xét nghiệm sàng lọc ung thư không đặc hiệu và ngưỡng sàng lọc thấp
 
+ Việc tiêm chủng phòng ngừa ung thư( như chủng ngừa HPV ngừa ung thư cổ tử cung ) vẫn chưa phát huy được hiệu quả phòng ngừa, và chưa có tính phổ cập rộng rãi
 
+ Các xét nghiệm tầm soát ung thư thường là những kỹ thuật cao cấp, mắc tiền, đại bộ phận nhân dân không đủ tài chính để tầm soát hàng năm.
 
+ Bảo hiểm y tế không chi trả cho các xét nghiệm để tầm soát ung thư.
 
- Giải pháp
 
+ Tuyên truyền, vận động đến từng hộ gia đình, các nhóm đối tượng nguy cơ cao tầm soát ung thư tùy giai đoạn cuộc đời mỗi năm 01 lần.
 
+ Đào tạo, phát triển mạnh và bền vững y tế cơ sở đề phát hiện sàng lọc sớm các trường hợp có dấu hiệu ung thư sớm
 
+ Các thủ thuật có tính đặ hiệu cao như nội soi dạ dày, nội soi đại tràng nên được làm thường quy ở những đối tượng có nguy cơ.
 
+ Phát tiển sâu rộng mô hình bác sỹ gia đình nhằm tiếp cận bệnh nhân đầy đủ nhằm phát hiện sớm và tư vấn kịp thời các trường hợp nghi ngờ để can thiệp kịp thời.
 
Nói tóm lại để thực hiện tốt các nhiệm vụ trên chúng ta cần xem xét lại tầm quan trọng của y tế cơ sở, nâng cao chất lượng y tế cơ sở, y tế cộng động “phòng bệnh hơn chữa bệnh” cũng như phát triển, đào tạo mạnh mô hình bác sỹ gia đình nhằm phát hiện sớm, thăm dò và can thiệp kịp thời nhằm mang lại lợi ích về sức khỏe bền vững và lâu dài. Bên cạnh đó việc hợp tác quốc tế đa dạng và chuyên sâu, nâng cấp trang thiết bị và công nghệ cũng là điều rất cần thiết.

10 hoạt động nổi bật trong tháng


Quảng cáo