GIẢI PHÁP CHO BỆNH VÕNG MẠC ĐÁI THÁO ĐƯỜNG

Cập nhật lúc : 06/06/2016 10:25

GIẢI PHÁP CHO BỆNH VÕNG MẠC ĐÁI THÁO ĐƯỜNG
 
Đái tháo đường (ĐTĐ) là một bệnh rối loạn chuyển hóa ngày càng phổ biến ở Việt Nam cũng như trên thế giới và có tốc độ phát triển rất nhanh theo đà nâng cao mức sống. Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) ước tính năm 2000 trên toàn thế giới có khoảng 171 triệu người mắc bệnh đái tháo đường và dự đoán đến năm 2030 số người mắc bệnh đái tháo đường trên toàn thế giới sẽ là 366 triệu người.Tại Việt Nam tình hình mắc bệnh đái tháo đường đang có chiều hướng gia tăng. Theo điều tra năm 2010 của Bệnh viện Nội tiết Trung ương, tỷ lệ mắc đái tháo đường trên cả nước lên đến 8%, trong số đó chưa thống kê được đầy đủ cả những bệnh nhân mắc mà chưa được khám và chẩn đoán.
 
Bệnh võng mạc ĐTĐ (BVMĐTĐ) là một biến chứng vi mạch đặc thù của bệnh ĐTĐ và gây tổn thương võng mạc của 1/3 số bệnh nhân ĐTĐ. BVMĐTĐ là một trong những nguyên nhân chính làm tổn hại chức năng thị giác trên những người lớn ở tuổi lao động. Các nghiên cứu cho thấy, các hình thái BVMĐTĐ nặng làm giảm chất lượng cuộc sống và khả năng làm việc cũng như cần nhiều chi phí cho khám chữa bệnh.Ở nhiều nước, BVMĐTĐ là nguyên nhân hay gặp nhất gây mù có thể phòng tránh được ở những người lớn còn lao động. BVMĐTĐ phát sinh theo thời gian mắc ĐTĐ và liên quan đến việc kiểm soát kém đường huyết, huyết áp và mỡ máu. Thời gian mắc ĐTĐ càng dài, việc kiểm soát bệnh càng kém thì nguy cơ bị BVMĐTĐ càng cao. Việc kiểm soát tốt ĐTĐ làm giảm tỷ lệ mắc mới BVMĐTĐ hàng năm và giúp tăng tuổi thọ. Tuy nhiên, việc kiểm soát tốt ĐTĐ không phải là luôn loại trừ nguy cơ BVMĐTĐ và vẫn có người có thể bị BVMĐTĐ.
 
Vì vậy việc chẩn đoán sớm,tầm soát tốt bệnh ĐTĐ rất có ý nghĩa trong việc giảm nguy cơ và biến chứng của bệnh trong đó có BVMĐTĐ, với việc làm trên sẽ đem lại hiệu quả trong việc phục hồi thị lực, phòng ngừa giảm thị lực cho nhóm bệnh nhân trong độ tuổi lao động, cải thiện chất lượng sống cho bệnh nhân. Việc can thiệp kịp thời còn ngăn ngừa tiến triển của bệnh sang các giai đoạn muộn, gây giảm thị lực nặng nề và không hồi phục.Chính vì những lý do trên cần phải thực hiện 2 mục tiêu như sau:
 
1. Tầm soát bênh đái tháo đường ở người khỏe mạnh
 
Mục đích chẩn đoán sớm bệnh nhân bị đái tháo đường, cũng như giảm số bệnh nhân chưa được chẩn đoán.
 
Tầm soát bệnh là phát hiện sớm các triệu chứng về bệnh nhưng chưa có dấu hiệu lâm sàng rõ ràng.
 
Tầm soát bệnh đái tháo đường (ĐTĐ) là phát hiện sớm những người bị đái tháo đường nhưng chưa có triệu chứng lâm sàng.
 
1.1 Tầm soát bệnh đái tháo đường (ĐTĐ) típ 1
 
Bệnh đái tháo đường típ 1 thường có nguồn gốc tự miễn với sự hiện diện của các loại tự kháng thể (Cơ thể sản xuất ra kháng thể chống lại một mô, cơ quan nào đó của cơ thể) do đó sự hiện diện của các tự kháng thể như: ICA, IAA, GAD, IA_2 giúp xác định nhóm bệnh nhân nguy cơ. Tuy nhiên cho đến nay do chưa có biện pháp nào ngăn ngừa hiệu quả ĐTĐ típ 1 và tỷ lệ bệnh nhân bị ĐTĐ típ 1 thấp (<10% những người bị ĐTĐ), người ta không đặt vấn đề tầm soát bệnh ĐTĐ típ 1.
 
1.2 Tầm soát bệnh đái tháo đường típ 2

Đây là loại thường gặp (chiếm 90 đến 95 % bệnh nhân bị ĐTĐ) và khoảng một nửa số bệnh nhân bị ĐTĐ típ 2 đã không được chẩn đoán. Do bệnh diễn tiến âm ỉ và thường là khi bệnh nhân được chẩn đoán thì các biến chứng của bệnh đã xuất hiện, thậm chí có những bệnh nhân lần đầu tiên chẩn đoán ĐTĐ thì đã mắc phải những biến chứng nặng nề của bệnh ĐTĐ.
 
Như vậy, việc phát hiện sớm bệnh ĐTĐ típ 2 có thể làm giảm bớt gánh nặng điều trị, mức độ trầm trọng của bệnh và giúp phòng chống những biến chứng mãn tính khác một cách hiệu quả.
 
Sau đây là các khuyến cáo về việc tầm soát bệnh ĐTĐ típ 2
 
Mọi đối tượng hơn 45 tuổi, nhất là những người mập (có BMI > 25 kg/m2), nếu thử đường huyết có kết quả ở mức bình thường nên thử lại đường huyết sau mỗi 3 năm.
 
Các đối tượng sau đây phải được thử đường huyết để tầm soát ở tuổi trẻ hơn với tần suất cao hơn:
 
• Người ít vận động
 
• Có người quan hệ trực hệ trong gia đình bị bệnh ĐTĐ
 
• Thuộc sắc dân có nguy cơ cao (Mỹ da đen, Mỹ bản địa, Mỹ gốc Châu Á, dân Châu Á Thái Bình Dương).
 
• Đã từng sinh con mà cân nặng lúc sinh của đứa trẻ lớn hơn 4 - 4.5 kg hoặc đã được chẩn đoán là ĐTĐ trong thai kỳ.
 
• Bị tăng huyết áp (Huyết áp lớn hơn hoặc bằng 140/90 mmHg).
 
• Có HDLc <= 35mg/dl (0.9mmol/l) hoặc mức triglycerid >=250mg/dl (2.82mmol/l)
 
• Có hội chứng buồng chứng đa nang.
 
• Đã được chẩn đoán là rối loạn dung nạp glucose hoặc rối loạn đường huyết khi đói.
 
• Có tình trạng bệnh lý kết hợp với đề kháng insulin (như bệnh gai đen, buồng trứng đa nang).
 
• Có tiền căn bị các bệnh về mạch máu.
 
Trên thực tế tầm soát bằng cách thử đường huyết đói sẽ kinh tế, dễ dàng thực hiện và tiện lợi.
 
• Tầm soát ĐTĐ típ 2 trên trẻ em
 
Từ hai thập kỷ trở lại đây, tỷ lệ trẻ em bị bệnh ĐTĐ típ 2 gia tăng rất cao nhất là các trẻ em bị béo phì và trẻ thuộc các sắc dân có nguy cơ cao.Tất cả trẻ thừa cân và có hai trong số bất cứ nguy cơ nào sau đây cần phải tầm soát đái tháo đường típ 2.
 
- Có người liên hệ trực hệ hoặc hàng thứ hai bị ĐTĐ
 
- Thuộc sắc dân hoặc chủng tộc có nguy cơ cao
 
- Có dấu hiệu đề kháng insulin hoặc tình trạng bệnh kết hợp với đề kháng insulin (Dấu gai đen, tăng huyết áp, rối loạn chuyển hóa lipid, buồng trứng đa nang)
 
- Mẹ có tiền căn ĐTĐ thai kì.
 
Tầm soát lần đầu vào khoảng 10 tuổi, thử lại vào tuổi dậy thì nếu dậy thì sớm. Nếu kết quả bình thường thử lại mỗi 2 năm/ lần.
 
2. Nâng cao năng lực của hệ thống y tế bệnh viện trong việc chẩn đoán và điều trị BVMĐTĐ
 
Hiện nay sự hiểu biết về BVMĐTĐ ở 1 số bệnh viện còn hạn chế, có lẽ một phần là còn chú trọng về những bệnh toàn thân mà chưa để ý đến những bệnh về mắt trong đó có BVMĐTĐ.Thực tế hiện nay đa phần các bệnh viện đều có chuyên khoa về nội tiết,những phòng khám đái tháo đường để có thể chẩn đoán và điều trị bệnh ĐTĐ nhưng chưa quan tâm đúng mức đến bệnh lý đáy mắt do bệnh ĐTĐ gây ra,ngoài ra chuyên khoa mắt tại đa phần các bệnh viện chưa có bác sĩ chuyên về bệnh lý đáy mắt để có thể chẩn đoán và điều trị BVMĐTĐ.Vì vậy chúng ta cần thực những công việc sau :
 
- Nâng cao sự hiểu biết về BVMĐTĐ ở hệ thống y tế bệnh viện, qua đó các bệnh viện sẽ có những chú trọng và đầu tư thích hợp qua đó giúp gia tăng số lượng bệnh viện đáp ứng nhu cầu chẩn đoán và điều trị BVMĐTĐ. 
 
- Đầu tư nhân lực, yếu tố con người là yếu tố quyết định, các bác sĩ tại khoa mắt cần thiết phải được đào tạo qua những khóa học về bệnh lý đáy mắt điều này giúp nâng cao số lượng cũng như chất lượng của bác sĩ chuyên khoa mắt có thể chẩn đoán và điều trị BVMĐTĐ. Vì vậy bệnh viện và khoa phòng cần tạo điều kiện và đầu tư về nguồn nhân lực để nâng cao chất lượng trong công tác khám và điều trị BVMĐTĐ.
 
- Đầu tư các trang thiết bị như máy chụp mạch huỳnh quang đáy mắt, chụp cắt lớp võng mạc OCT, máy laser quang đông võng mạc,ngoài ra thuốc điểu trị BVMNĐTĐ như Avastin, Lucentis..Những trang thiết bị và những thuốc trên là điều kiện không thể thiếu để có thể chẩn đoán, theo dõi và điều trị BVMĐTĐ điều mà đa phần các bệnh viện hiện nay còn thiếu, thậm chí là chưa có. Những trang thiết bị trên cần nguồn kinh phí tương đối lớn vì thế mà sự đầu tư còn hạn chế, điều này cần các bệnh viện phải xem xét những khoản kinh phí có thể từ nhiều nguồn để có thể trang bị đầy đủ các thiết bị trên. Trong giai đoạn đầu, nếu bệnh viện còn chưa có đầy đủ các trang thiết bị thì sự cần thiết của bác sĩ chuyên khoa đáy mắt cần khám lâm sàng đưa ra những chỉ định chuyển bệnh nhân lên tuyến trên có đầy đủ các trang thiết bị để bệnh nhân được chẩn đoán, tầm soát và điều trị bệnh.
 
Thực hiện được 2 mục tiêu trên sẽ chẩn đoán sớm bệnh ĐTĐ, giảm số bệnh nhân chưa được chẩn đoán bệnh ĐTĐ, cũng như nâng cao số lượng cũng như chất lượng các bệnh viện và các bác sĩ chuyên khoa đáy mắt để góp phần giảm thiếu những biến chứng do bệnh ĐTĐ gây ra trên mắt, đem lại thị lực cho người bệnh, giảm gánh nặng cho gia đình và xã hội do BVMĐTĐ gây ra. 

10 hoạt động nổi bật trong tháng


Quảng cáo