GIA TĂNG SỐ LƯỢNG BÁC SĨ VÀ BỆNH VIỆN CÓ KHẢ NĂNG CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ BỆNH VÕNG MẠC ĐÁI THÁO ĐƯỜNG

Cập nhật lúc : 06/06/2016 10:10

BÀI DỰ THI “GIẢI PHÁP SÁNG TẠO Y TẾ CỘNG ĐỒNG”
GIA TĂNG SỐ LƯỢNG BÁC SĨ VÀ BỆNH VIỆN CÓ KHẢ NĂNG CHẨN ĐOÁN
VÀ ĐIỀU TRỊ BỆNH VÕNG MẠC ĐÁI THÁO ĐƯỜNG

Bs. Trần Hồng Bảo – BV Mắt TPHCM
 
1. MỞ ĐẦU

Đái tháo đường (ĐTĐ) hiện nay đang được mệnh danh là “dịch bệnh không lây lan”, với sức lan tỏa khủng khiếp. Tại Việt Nam, theo báo cáo của Viện Nội tiết Trung ương khảo sát vào năm 2012, tỷ lệ mắc ĐTĐ là 5.7%, tăng 211% so với năm 2002 (2.7%), với khoảng 4.5 triệu người mắc; trong đó 60% số người mắc ĐTĐ chưa được chẩn đoán và phát hiện.Điều đáng chú ý là, con những con số trên chưa bao gồm những bệnh nhân tiền đái tháo đường.
 
Số lượng cũng như tỷ lệ người mắc ĐTĐ dự đoán sẽ còn gia tăng trong tương lai do Việt Nam đang trên con đường công nghiệp hóa và hội nhập. Stress xã hội gia tăng, thức ăn nhanh ít chất xơ và những hình thức giải trí ít vận động đang tràn vào Việt Nam, cộng thêm thói quen ít hoạt động thể lực là những yếu tố chính làm tỷ lệ ĐTĐ gia tăng; ngoài ra, việc tầm soát và phát hiện ĐTĐ thai kỳ chưa hiệu quả do hiểu biết của người dân còn hạn chế cũng góp phần không nhỏ.Thật vậy, báo cáo của Việt Nội tiết Trung ương cho thấy Việt Nam là một trong những quốc gia có tốc độ gia tăng bệnh ĐTĐ cao nhất thế giới.Một điều nguy hiểm là bệnh ĐTĐ đang có xu hướng trẻ hóa, tỉ lệ ĐTĐ týp II ở bệnh nhân 25-35 tuổi cao hơn hẳn 10 năm trước.
 
Khoảng một nửa số bệnh nhân ĐTĐ có bệnh võng mạc đái tháo đường (BVMĐTĐ) sau 10 năm và sau 20 năm có thể đến 100%; đây là một trong những nguyên nhân chính gây mù ở các nước phát triển cũng như đang phát triển. 30% bệnh nhân ĐTĐ bị mù hay giảm thị lực sâu sắc do phù hoàng điểm, xuất huyết dịch kính, bong võng mạc hay glaucoma tân mạch. Phù hoàng điểm do ĐTĐ là nguyên nhân chính gây giảm thị lực ở bệnh nhân ĐTĐ. Việc phát hiện và điều trị muộn BVMĐTĐ dẫn đến phải sử dụng những kỹ thuật điều trị phức tạp, tiêu tốn chi phí cao nhưng tiên lượng phục hồi thị lực lại kém, ảnh hưởng nặng nề đến ngân sách, tài lực của nhân dân cũng như sức lao động.
 
Cả nước Việt Nam hiện nay chỉ có khoảng 30 bác sĩ chuyên khoa đáy mắt, với số bệnh viện chẩn đoán và điều trị được BVMĐTĐ chỉ đếm trên đầu ngón tay. Việc mở rộng số cơ sở khám chữa bệnh cũng như bác sĩ có khả năng chẩn đoán và điều trị BVMĐTĐ là một trong những nhiệm vụ cấp thiết của ngành y tế hiện nay; trong đó, mở rộng số bệnh viện được trang bị đầy đủ trang thiết bị chẩn đoán và điều trị được BVMĐTĐ phải đóng vai trò đi đầu. Đây không chỉ là vấn đề của riêng ngành nhãn khoa mà là vấn đề của toàn ngành y tế và cần sự giúp sức của hệ thống chính quyền.
 
2. GIẢI PHÁP GIA TĂNG SỐ BỆNH VIỆN CÓ KHẢ NĂNG CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ BỆNH VÕNG MẠC ĐÁI THÁO ĐƯỜNG
Hiện nay, số bệnh viện (BV) có khả năng chẩn đoán và điều trị BVMĐTĐ còn rất hạn chế. Tại TPHCM có 5 BV, tại Hà Nội có 2 BV, trong đó 6/7 BV là BV chuyên khoa mắt, hệ thống BV đa khoa hầu như tê liệt hoàn toàn ở mảng chuyên môn này; con số này ở các địa phương khác còn ít hơn nữa, thậm chí không có. Nguyên nhân chủ yếu là do thiếu các trang thiết bị cần thiết cho việc chẩn đoán và điều trị do chi phí trang thiết bị rất đắt tiền, cũng như thiếu bác sĩ có chuyên môn. Việc nâng cao năng lực các BV địa phương là rất cần thiết để giảm tải các BV ở các thành phố lớn, chữa trị kịp thời và theo dõi chặt chẽ cho bệnh nhân. Để làm được điều này, cần phải cùng lúc tái cơ cấu hệ thống BV đa khoa, nâng cao năng lực BV chuyên khoa mắt và huy động y tế tư nhân tham gia.
 
2.1. Tái cơ cấu hệ thống y tế theo hướng bỏ phân tuyến
 
Hiện nay, hệ thống y tế phân tuyến đã bộc lộ rất nhiều bất cập. Thực tế tại TPHCM, các trạm y tế phường xã hoàn toàn tê liệt do không có bệnh nhân, việc chuyển tuyến bảo hiểm y tế (BHYT) cũng rất phức tạp. Việc đầu tư dàn trải như vậy tiêu tốn kinh phí và không có hiệu quả. Do đó, ngành y tế cần xóa hệ thống phân tuyến, đóng cửa hệ thống trạm y tế và các bệnh viện quận huyện hoạt động kém hiệu quả, chuyển hẳn hình thức quản lý theo phân hạng BV. Từ đó, có thể tập trung kinh phí tăng quy mô giường bệnh các BV còn hoạt động hiệu quả, mua sắm trang thiết bị, gia tăng nhân lực chuyên môn phục vụ việc chẩn đoán và điều trị chuyên khoa, trong đó có BVMĐTĐ.Như vậy mới thu được lòng tin của người dân điều trị và theo dõi tại các BV đa khoa, giảm tải cho các BV chuyên khoa.
 
Vai trò các BV đa khoa chỉ dừng ở chẩn đoán và điều trị nội khoa đối với BVMĐTĐ, điều trị phẫu thuật đòi hỏi nhiều trang thiết bị hơn, bác sĩ phẫu thuật kinh nghiệm và số lượng bệnh nhân không nhiều, không nhất thiết phải đầu tư vì tốn kém và không hiệu quả; nhiệm vụ này nên nhường lại cho các BV chuyên khoa mắt.
 
2.2. Củng cố năng lực các trung tâm chuyên khoa Mắt hiện có tại địa phương

Hiện nay, nhiều tỉnh thành còn BV chuyên khoa mắt chưa thể chẩn đoán, điều trị và theo dõi BVMĐTĐ. Nguyên nhân chủ yếu vẫn là thiếu kinh phí để đầu tư hệ thống trang thiết bị chẩn đoán, từ đó chưa chú trọng đào tạo bác sĩ chuyên khoa đáy mắt. Với việc tái cơ cấu hệ thống y tế theo hướng xóa phân tuyến, tập trung đầu tư chất lượng bệnh viện, ngành y tế sẽ có đủ kinh phí đầu tư trang thiết bị và nhân lực cho các bệnh viện chuyên khoa mắt. Về lý tưởng, BV chuyên khoa mắt địa phương phải đảm nhiệm được việc chẩn đoán và điều trị nội khoa lẫn ngoại khoa đối với BVMĐTĐ, tuy nhiên trong giai đoạn đầu, chỉ nên đặt mục tiêu điều trị nội khoa, bệnh nhân cần phẫu thuật có thể chuyển đến trung tâm mắt của các thành phố lớn.
 
2.3. Tăng cường vai trò của y tế tư nhân
 
Y tế tư nhân là nguồn hỗ trợ cực kỳ to lớn cho y tế công, tuy nhiên do sự ưu ái đối với hệ thống công lập cùng việc quản lý chưa sát sao, hệ thống y tế tư nhân đang phát triển lệch lạc để “sống qua ngày”, đa phần chạy theo lợi nhuận, chưa có nhiều đóng góp cho ngành y. Tuy nhiên, xã hội hóa ngành y tế là xu hướng tất yếu. Thực tế ở TPHCM, trong số 5 BV chẩn đoán và điều trị được BVMĐTĐ có 4 BV là tư nhân, những BV này đã chia sẻ gánh nặng với BV Mắt TPHCM rất nhiều.Ngành y tế cùng chính quyền địa phương cần đối xử bình đẳng với hệ thống y tế tư nhân, tạo điều kiện để y tế tư nhân phát triển và chia sẻ gánh nặng với y tế công lập. Như vậy mới có thể phát huy tối đa tiềm lực xã hội trong chăm sóc sức khỏe người dân nói chung và bệnh nhân BVMĐTĐ nói riêng.
 
3. GIẢI PHÁP GIA TĂNG SỐ BÁC SĨ CÓ KHẢ NĂNG CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ BỆNH VÕNG MẠC ĐÁI THÁO ĐƯỜNG
 
Thực tế hiện nay, chúng ta chưa có đủ nhân lực để đào tạo bác sĩ chỉ đơn thuần thực hành đáy mắt, giải pháp gia tăng số bác sĩ điều trị BVMĐTĐ do đó phải đặt trên nền tảng trang bị bổ sung kiến thức đáy mắt cho các bác sĩ nhãn khoa tổng quát, để họ có thể điều trị mắt tổng quát, trong đó có đáy mắt. Có nhiều cách đào tạo: đào tạo liên tục (có thể qua mạng), đào tạo tập trung trung và dài hạn cũng như hỗ trợ nhân lực từ các trung tâm chuyên khoa mắt. Đáy mắt là một chuyên ngành sâu rất khó, đòi hỏi nhiều kỹ năng, nhiều kiến thức phải nắm vững, cũng như không mang lại nhiều thu nhập cho người bác sĩ như 1 số phẫu thuật khác nên rất dễ gây nản lòng người bước chân vào; một chế độ đãi ngộ xứng đáng do đó rất cần thiết để xây dựng đội ngũ bác sĩ thực hiện công tác này.
 
3.1. Hỗ trợ từ các trung tâm chuyên khoa sâu
 
Trong giai đoạn đầu, khi các bệnh viện chưa đào tạo kịp bác sĩ đáy mắt, sự hỗ trợ bác sĩ chuyên khoa đáy mắt từ các trung tâm chuyên khoa mắt là rất cần thiết. Họ sẽ điều trị bệnh nhân, hướng dẫn cho bác sĩ tại cơ sở được hỗ trợ theo định kỳ thời gian. Các bác sĩ này cũng có thể quay lại theo định kỳ khi cơ sở đã có bác sĩ đáy mắt rồi (thời gian tùy theo nhu cầu của cơ sở và quy định của sở y tế địa phương), để trao đổi thêm kinh nghiệm cho cơ sở được hỗ trợ. Tất nhiên, điều này chỉ thành hiện thực khi cơ sở đã có đầy đủ các trang thiết bị chẩn đoán và điều trị BVMĐTĐ.
 
3.2. Đào tạo trung và dài hạn
Đào tạo trung và dài hạn từ 6 tháng – 1 năm là biện pháp cơ bản và bắt buộc để gia tăng số lượng bác sĩ đáy mắt phục vụ chẩn đoán và điều trị BVMĐTĐ.Các bệnh viện cần gửi nhân lực đi đào tạo tại các trung tâm chuyên khoa mắt trong và ngoài nước để trang bị kiến thức cần thiết phục vụ chẩn đoán và điều trị, trên cơ sở bệnh viện đã có nguồn nhân lực đầy đủ từ tái cơ cấu ngành y tế. Gửi bác sĩ đi học ỏ nước ngoài là việc đáng khuyến khích nếu có thể; còn tại Việt Nam, có 2 trung tâm lớn có thể đào tạo đáy mắt là Bệnh viện Mắt Trung ương (Hà Nội) và Bệnh viện Mắt TPHCM (TPHCM).Thời gian cần thiết để đào tạo một bác sĩ có thể điều trị nội khoa đáy mắt là 6 tháng – 1 năm; để có thể phẫu thuật đáy mắt, thời gian trung bình cần phải mất lâu hơn.
 
Kinh phí đi học nên do BV hỗ trợ nếu có thể, điều kiện phục vụ ngược lại cho BV đối với người đi học do 2 bên tự thỏa thuận. Với những bác sĩ có ý định đi học trong nước hay nước ngoài bằng kinh phí tự bỏ ra để không phải lệ thuộc bệnh viện và cần tư cách pháp nhân (một tổ chức đứng ra cử đi học), các Hội Nhãn khoa địa phương cần chủ động phát huy vai trò của mình, đứng ra bảo lãnh về tư cách pháp nhân cho người bác sĩ đi học.
 
3.3. Đào tạo liên tục (CME)

Cần khuyến khích các bác sĩ mắt tham gia những buổi CME về đáy mắt để cập nhật thêm kiến thức mới. Các buổi CME này thường được tổ chức tại các trung tâm chuyên khoa mắt, trường đại học y – dược, hoặc do Hội Nhãn khoa chủ trì; một số website cũng có chức năng cung cấp nội dung đào tạo liên tục và có một bài trắc nghiệm để lượng giá, người đạt kết quả lượng giá được nhận một chứng chỉ online đã hoàn thành CME có giá trị tương đương với một chứng chỉ CME tập trung. Trong tương lai, hình thức đào tạo liên tục cần trở thành điều kiện bắt buộc nếu người bác sĩ muốn tiếp tục hành nghề; quy định này đã được áp dụng đối với TPHCM (ít nhất 48 giờ đào tạo liên tục trong 2 năm để dược gia hạn chứng chỉ hành nghề).
 
4. CÁC GIẢI PHÁP PHỤ TRỢ KHÁC
 
Bên cạnh việc phát triển các bệnh viện đa khoa, trung tâm chuyên khoa sâu cũng như nguồn nhân lực có thể chẩn đoán và điều trị BVMĐTĐ, tầm soát và phát hiện ĐTĐ và BVMĐTĐ đóng vai trò hết sức quan trọng. Việc phát hiện sớm ĐTĐ và BVMĐTĐ giúp cho quá trình theo dõi được chủ động và sát sao hơn, bệnh nhân có thể được điều trị ngay từ giai đoạn sớm, dẫn đến ít tiêu tốn chi phí và tiên lượng phục hồi thị lực tốt hơn. Phát triển mô hình bác sĩ gia đình và tổ chức kiểm tra sức khỏe định kỳ hàng năm chất lượng là hai yếu tố then chốt giúp phát hiện sớm ĐTĐ và BVMĐTĐ.
 
4.1. Phát triển mô hình bác sĩ gia đình
 
Mô hình bác sĩ gia đình đã xuất hiện từ lâu ở các nước tiên tiến và đã chứng minh vai trò ưu việt của nó. Bác sĩ gia đình, với vai trò theo dõi tình hình sức khỏe của một số nhất định người trong một thời gian dài, có thể nắm được những thay đổi về vấn đề sức khỏe của người bệnh từ rất sớm. Một bác sĩ gia đình với kiến thức và kỹ năng bao quát của một bác sĩ đa khoa sẽ giúp bệnh nhân phát hiện sớm ĐTĐ và BVMĐTĐ nếu có, hoặc chuyển bệnh nhân đến khám chuyên khoa mắt sớm khi phát hiện ĐTĐ; qua đó, việc phát hiện và theo dõi BVMĐTĐ trở nên kịp thời hơn. Phát triển mô hình bác sĩ gia đình trong bối cảnh cơ cấu lại các bệnh viện bước đi đúng đắn và cần thiết trong giai đoạn chuyển dịch cơ cấu y tế.Tất nhiên, hệ thống này cũng cần phải được BHYT chi trả.
 
4.2. Tổ chức kiểm tra sức khỏe định kỳ hàng năm
 
Khám sức khỏe tổng quát hàng năm là công cụ rất cần thiết để phát hiện sớm các vấn đề sức khỏe của bệnh nhân, nếu được tổ chức và thực hiện nghiêm túc, đúng cách, bổ trợ hữu hiệu cho hệ thống bác sĩ gia đình. Ở nước ta, việc kiểm tra sức khỏe định kỳ hàng năm đã được quy định bắt buộc trong Luật lao động, tuy nhiên quá trình thực hiện còn rất nhiều bất cập. Điều này xuất phát từ tâm lý “có bệnh hãy đi khám” của người dân, dẫn đến cả người dân lẫn người bác sĩ tầm soát đều xem nhẹ giá trị của việc khám sức khỏe; một số không nhỏ nhà sử dụng lao động và cả các đơn vị khám sức khỏe đã lợi dụng tâm lý này tổ chức khám sức khỏe theo kiểu đối phó để giảm thiểu chi phí và tăng tối đa lợi nhuận cho cả 2 bên. Kết quả khám sức khỏe định kỳ do đó trở nên vô nghĩa và không có giá trị tham khảo. Nếu được chấn chỉnh, mô hình khám tầm soát này sẽ góp phần rất hữu ích trong việc phát hiện sớm ĐTĐ và BVMĐTĐ.
 
5. KẾT LUẬN
 
Như vậy, gia tăng số lượng bệnh viện và bác sĩ có khả năng chẩn đoán và điều trị BVMĐTĐ là vấn đề không chỉ của riêng ngành nhãn khoa mà còn đòi hỏi sự thay đổi sâu sắc cơ cấu của toàn ngành y tế, cơ cấu ngân sách và nhân sự cho ngành y tế do đó cần bàn tay của cả hệ thống chính quyền. Mục tiêu này không thể hoàn thành trong một thời gian ngắn mà cần phải có một lộ trình, cũng như phải phối hợp chặt chẽ không tách rời với guồng vận động thay đổi của ngành y tế, với hy vọng góp phần mang lại ánh sáng cho toàn xã hội Việt Nam.

10 hoạt động nổi bật trong tháng


Quảng cáo