Đề tài: Ghép tạng

Cập nhật lúc : 06/06/2016 10:10

Ghép tạng

Mỗi năm Việt Nam có tới 10.0000 người chờ ghép thận, thực tế chỉ có khoảng 200 (5%) bệnh nhân được ghép mỗi năm, mặc dù Việt Nam đã triển khai và ghép thận thành công hơn 10 năm qua.
 
BÀI VIẾT DỰ THI
Sau 24 năm kể từ khi ca ghép thận đầu tiên thành công năm 1992 đến nay thì kỹ thuật ghép thận của nước ta đã có nhiều tiến bộ, bắt kịp với nhiều nước tiên tiến trên thế giới.Tuy nhiên, hiện nay nhu cầu ghép thận vẫn còn rất cao vì thực tế số lượng người được ghép mỗi năm chỉ khoảng 5% trên tổng số người chờ ghép thận. Điều này do một số nguyên nhân sau đây: 
 
I. PHÂN TÍCH NGUYÊN NHÂN

1.1. Thiếu tạng để ghép:nguyên nhân là do
- Tuyên truyền vận động còn yếu.
 
- Nhận thức về ý nghĩa của việc hiến tạng cứu người của người dân còn chưa cao. 
 
- Chưa tận dụng được nguồn tạng chết não từ tai nạn giao thông. Mỗi năm cả nước có gần 10 ngàn người chết vì tai nạn giao thông tuy nhiên chỉ có rất ít gia đình đồng ý hiến tạng người chết não.
 
- Chưa được sự đồng thuận cao của gia đình, xã hội, vấn đề tín ngưỡng (chết toàn thây). 
 
- Do người dân thiếu thông tin nên không hiểu rõ về cách cho tạng như thế nào là đúng.Ví dụ, một bệnh nhân có ý nguyện hiến tạng, nhưng khi bệnh nhân có tình trạng xấu đi, người nhà không đưa đến bệnh viện, mà đến khi bệnh nhân qua đời vài tiếng mới gọi điện thoại thông báo.
 
- Chưa tin tưởng vào đánh giá chết não: người dân sợ khi có tai nạn, còn có thể cứu chữa (chưa thực sự chết não) có nguy cơ bị lấy tạng nếu đánh giá chết não không đúng.
 
- Người dân chưa muốn hiến tạng vì sợ sức khỏe giảm sút hoặc nguy hiểm sau khi hiến tạng.
 
- Tâm lý lo ngại mất thời gian và các thủ tục giấy tờ phiền hà và có khả năng phải tốn thêm chi phí khi thực hiện việc hiến tạng của người thân chết não. 
 
- Thủ tục đăng kí hiến tạng chưa dễ dàng thuận tiện.
 
- Khâu điều phối ghép tạng còn yếu: tuy đã có trung tâm điều phối, nhưng chưa có hệ thống điều phối ghép tạng giữa các BV trừ vài trường hợp chuyển tạng ghép từ BV này sang BV khác do các BV tự liên hệ với nhau, thiếu hệ thống phần mềm danh sách bệnh nhân chờ ghép toàn quốc, thiếu sự phối hợp đồng bộ giữa các BV có ghép, chưa có phần mềm quản lý và điều phối ghép tạng trên toàn quốc. Mặt khác, chưa có một cơ quan, bộ phận nào chuyên trách riêng về ghép tạng trong các bệnh viện. Mỗi lần ghép là phải huy động các khoa liên quan cùng tham gia, nên việc ghép tạng chưa được quan tâm thường xuyên.
 
- Chưa có ngân hàng tạng (trừ ghép giác mạc, đã có ngân hàng giác mạc ở Bệnh viện Mắt TW)
 
1.2. Thiếu bác sĩ, điều dưỡng, kĩ thuật viên chuyên môn về ngành ghép: 
 
- Thiếu BS ngoại khoa chuyên ngành ghép: Cả nước 5 Bệnh viện ghép chính (Chợ Rẫy, Việt Đức, TW Huế, 103, 115), các BV khác mới ghép được một vài ca: Đà Nẵng, Thái Nguyên, Cần Thơ…. vì thiếu bác sĩ ghép. Các bệnh viện có khả năng ghép tạng lại thường bị quá tải trong khám chữa bệnh, do đó cũng khó khăn cho công việc ghép tạng vì thiếu nhân lực và thời gian. 
 
- Thiếu thiếu Bác sĩ /Điều Dưỡng/ Kĩ thuật viên có chuyên môn toàn diện về ghép: như miễn dịch, nội khoa chuyên sâu về ghép tạng. Chưa có chuyên ngành ghép ở các trường Đại học y.
 
- Còn yếu về chuyên môn: Trừ một số chuyên gia chuyên ngành ghép, chuyên môn các Bác sĩ, Điều dưỡng, Kĩ thuật viên trong vẫn còn yếu. Đơn cử như ghép gan, cả nước mỗi năm chỉ ghép gan được cho khoảng 20 bệnh nhân, trong khi nhu cầu rất cao. Bệnh viện Chợ Rẫy là đầu ngành phía Nam mỗi năm cũng chỉ ghép được vài bệnh nhân gan, còn phụ thuộc chuyên môn vào các bác sĩ Hàn Quốc. Nhiều bệnh viện khác mới chỉ ghép được thận, chưa có chuyên môn về ghép gan
.
1.3. Cơ sở vật chất, trang thiết bị ghép và trang thiết bị bảo quản vận chuyểnnguồn tạng còn thiếu
 
- Một số bệnh viện còn thiếu phòng phòng mổ
 
- Thiếu trang thiết bị chẩn đoán theo dõi như các trang thiết bị về thăm dò chức năng, giải phẫu bệnh, thiết bị định lượng nồng độ thuốc chống thải ghépđể đảm bảo việc chuẩn đoán và theo dõi người hiến, người được ghép trước trong và sau khi ghép.
 
- Một số bệnh việndo quá tải nên vẫn còn thiếu phòng/ giường điều trị
 
- Thiếu các trang thiết bị chuyên dụng để lưu trữ, bảo quản, vận chuyển tạng 
 
- Các xe chuyên dụng và máy bay riêng để vận chuyển tạng vẫn chưa có
 
1.4. Chi phí ghép thận và điều trị sau ghép còn cao
- Chi phí ghép thận ở các bệnh viện khác nhau ít nhất trên 200 triệu/bệnh nhân ghép
 
- Chi phí thuốc sau ghép (uống suốt đời): khoảng 10 triệu đồng/tháng nếu không có bảo hiểm y tế. Như vậy, với mức thu nhập bình quân của Việt Nam là 2000 USD/năm = 45 triệu đồng/ năm thì khả năng chi trả rất khó, đặc biệt là đối với những người có thu nhập thấp.

1.5. Hệ thống pháp lý bảo vệ quyền lợi cho những người liên quan chưa thỏa đáng
 
- Người hiến tạng còn sống
 
- Gia đình người thân của người hiến tạng
 
- Các tổ chức đoàn thể liên quan: Hội những người vận động hiến tạng, Hội Chữ Thập Đỏ, Hôi Thầy thuốc Trẻ Việt Nam, Đoàn thanh niên, Hội Phụ Nữ, Các Hội, Đoàn, Tôn Giáo.v.v.
 
1.6. Luật vẫn chưa thông suốt và sự phối hợp giữa các ban ngành trong việc vận chuyển và ghép tạng vẫn chưa tốt
 
- Một số trường hợp một người chẳng may bị tai nạn không cứu được và đồng ý hiến tạng. Về chuyên môn y khoa thì có thể tiến hành dễ dàng, nhưng vì là tai nạn chết người nên cần phải tuân thủ quy định về pháp luật hình sự. Phải có sự hiện diện của cơ quan công an, phải giải phẫu tử thi. Trong trường hợp này, do chưa có văn bản pháp quy hướng dẫn nên bác sĩ sẽ gặp rắc rối, thậm chí không thực hiện được việc lấy tạng dù các bộ phận trên thi thể người hiến vốn không liên quan với tổn thương do tai nạn gây ra. 
 
- Pháp luật nước ta hiện nay chưa có cơ chế phối hợp giữa Bộ Y tế, Bộ Công an, Bộ Giao thông Vận tải trong vấn đề vận chuyển tạng người. Do đó, việc vận chuyển tạng về chậm do máy bay bị hoãn, ô tô tắc đường thì ca mổ cũng không thể thành công được. Tại nhiều nước trên thế giới, quá trình vận chuyển tạng trong các xe chuyên dụng đều có cảnh sát dẫn đường để tránh bị tắc đường, tuy nhiên Việt Nam chưa làm được điều này.
 
II. GIẢI PHÁP
 
Từ các nguyên nhân phân tích trên, chúng tôi đề ra các giải pháp nhằm tăng tỉ lệ ghép thân mỗi năm như sau:
 
2.1. Cần có xây dựng một chiến lược truyền thông vận động hiến tặng mô và bộ phận cơ thể trên phạm vi toàn quốc đến. Thông điệp về ý nghĩa nhân văn cao cả của việc hiến tặng mô, tạng cứu người cần được truyền tải đến từng người dân qua các kênh truyên thông như ti vi, báo, đài, internet không chỉ bằng tiếng việt mà còn bằng nhiều thứ tiếng dân tộc. Mặt khác, cần truyền thông qua các poster, áp phích bằng hình ảnh để hiểu để đến những người không biết chữ cũng dễ dàng tiếp cận được. Thêm vào đó, cần xây dựng 1 quy trình chuẩn gồm các thông tin cần thiết liên quan đến việc hiến tạng (như đối tượng hiến tạng, nơi đăng ký, quyền lợi của người hiến tạng, các tình huống cần liên lạc với bệnh viện .v.v.) để truyền thông đến tất cả người dân đều biết.
 
2.2. Tăng cường việc truyền thông, vận động người thân của những người không may bị nạn bị chết não. Thay vì, để toàn bộ thân xác người thân của mình bị chôn vùi hoặc bị thiêu huỷ thì khi hiến tạng cướu người một phần thân thể của người thân vẫn còn tồn tại như người thân của mình vẫn đang sống.
 
2.3. Đưa ý nghĩa và kiến thức về hiến tạng cứu người vào trường học cấp 2 môn giáo dục công dân lớp 9. Đưa thông tin đăng ký hiến tạng vào các hoạt động của người dân như khi đi thi bằng lái xe, cần có câu hỏi bạn có nguyện vọng hiến các cơ quan tạng khi không may qua đời hay không và thông tin của người tình nguyện hiến tạng cần được ghi trực tiếp trong bằng lái xe. Mặt khác khi đi khám sức khỏe trong hồ sơ khám cũng cần nên hỏi thông tin này. 
 
2.4. Cần có sự chỉ đạo, sự ủng hộ và tham gia tích cực của các cấp ủy đảng, chính quyền từ Trung ương đến địa phương, các cấp, Bộ, Ban ngành đoàn thể từ Mặt trận Tổ quốc, các Cơ quan Quản lý Nhà nước, Bộ Thông tin truyền thông, Báo trí, Ban Tuyên giáo Hội nông dân, hội phụ nữ, đoàn thanh niên, các thầy thuốc, các hoà thượng, linh mục ở các giáo phái tôn giáo cùng tham gia chương trình vận động hiến tạng. Có như vậy, mới tạo được một cuộc vận động sâu rộng, làm thay đổi nhận thức và hành vi của mỗi người dân trong cộng đồng, xã hội. 
 
2.5. Hàng năm chọn 01 ngày lễ tri ân, tôn vinh những người hiến tạng cứu người. Tổ chức các cuộc thi trong đoàn hội nhằm tuyên truyền ý nghĩa nhân văn của việc hiến tạng và các thông tin về hiến tạng đến các học sinh, thanh thiếu niên và các đoàn thể. Tổ chức các buổi đi bộ diễu hành nhằm ủng hộ việc hiến tạng cứu người. 
 
2.6. Tăng cường các chính sách hỗ trợ cho người hiến tạng. Đối với những người sống hiến tạng tự nguyện cần có các chế độ ưu đãi ngoài việc được chăm sóc phục hồi sức khỏe miễn phí, được ưu tiên ghép mô tạng khi có chỉ định, tặng kỷ niệm chương, thì thẻ bảo hiểm y tế cần được cấp miễn phí suốt đời và được hỗ trợ tất cả các vần đề y tế mắc phải trong vòng 1 năm kể từ ngày cho tạng. Đối với thân nhân của người chết não, ngưng tim đã hiến tạng có hoàn cảnh gia đình khó khăn cần miễn giảm học phí, ưu tiên đào tạo nghề cho con em họ. 
 
2.7. Cần phải minh bạch trong toàn bộ quy trình hiến xác với các bộ phận, cá nhân có liên quan, các chi tiết về thời gian, chi phí và phải thể hiện được sự tôn trọng đối với thi thể cũng như các ý nguyện của gia đình về việc mai táng và cúng viếng. Phát huy vai trò của những tổ chức phi lợi nhuận hoặc các tổ chức nhân đạo và các nguồn tạo quỹ hỗ trợ là trong việc đảm bảo với gia đình là sự hy sinh của con, em họ sẽ không bị lợi dụng.
 
2.8. Cách thức dăng ký hiến tạng phải được đơn giản hóa bằng cách thiết lập một trang web riêng cho hiến tạng và lập một phần mềm trực tuyến trong trang web để người dân có thể tự đăng ký các thông tin cần thiết về hiến tạng một cách nhanh chóng và sau đó thẻ hiến tạng của người đăng ký sẽ được gởi trực tiếp về theo địa chỉ của người đã đăng ký bằng đường chuyển phát nhanh. Mặt khác trang web này có thể kết nối được với các trang mạng của tất cả các cơ sở y tế, các trang mạng báo chí, mạng xã hội (như facebook, zalo, twitter) để mọi người dễ dàng nhìn thấy và truy cập.
 
2.9. Đối với các bệnh viện có thể thực hiện được việc ghép tạng cần thiết lập một đơn vị ghép tạng và thành lập đội ngũ, ê kíp phậu thuật có phân công rõ chức năng nhiềm vụ của từng người, cũng như quy định rõ sự hỗ trợ của các khoa chuyên môn trong tư thế sẵn sàng ứng phó với tình huống khẩn cấp trong ghép tạng.
 
2.10. Tăng số bệnh viện tuyến trung ương, thành phố và tuyến tỉnh đều có thể thực hiện ghép thận. Tăng cường công tác chuyển giao công nghệ ghép thận cho các bệnh viện chưa tự thực hiện được. Đầu tư phát triển nguồn nhân lực về cả số lượng và chất lượng, tổ chức nhiều lớp tập huấn mời các bác sĩ đã có nhiều kiến thức và kinh nghiệm ghép thận trong và ngoài nước đến giảng dạy, cầm tay chỉ việc đến khi có thể thực hiện được ca ghép thận thành công. Thực hiện nhiều ca ghép tạng/ngày là cơ hội để các đội ngũ y, bác sĩ rèn luyện, sẵn sàng ứng phó với các tình huống có thể xảy ra và bảo đảm an toàn trước-trong và sau ghép. 
 
2.11. Thành lập Hội Ghép thận Việt Nam, thường xuyên tổ chức các buổi hội thảo nhằm chia sẽ kinh nghiệm, cũng như trao đổi để khắc phục kịp thới các khó khăn trong việc hiến và ghép tạng của tất cả các cơ sở ghép thận trong cả nước.
 
2.12. Các bệnh viện cần tạo điều kiện cho đội ngũ y bác sĩ chuyên môn ghép tạng tham gia các khóa đào tạo tại nước ngoài để tiếp tục học hỏi, trao dồi kiến thức để luôn bắt kịp các kỹ thuật ghép thận cũng như cáchchăm sóc, điều trị sau ghép ngày một tiến bộ trên thế giới. 
 
2.13. Khuyến kích và khen thưởng cho cá nhân hoặc tập thể y bác sĩ có nhiều thành tích xuất sắc trong việc ghép tạng, cũng như có nhiều nghiên cứu, ứng dụng hiệu quả trong công tác ghép mô tạng nói chung và ghép thận nói riêng.
 
2.14. Xây dựng các đề án phát triển tổng thể về các trang thiết bị và phòng mổ, phòng điều trị tại các cơ sở ghép tạng. Đặc biệt là đầu tư các trang thiết bị chuyên dụng phục vục cho việc lưu trữ, bảo quản, vận chuyển, ghép, chăm sóc và theo dõi chống thải ghép sau phẫu thuật. Thuê hoặc xã hội hóa để có xe chuyên dụng và trực thăng riêng phục vụ việc vận chuyển tạng.
 
2.15. Xây dựng Quỹ Hỗ trợ hiến và ghép thận bằng cách huy động tài chính các tổ chức từ thiện, các tổ chức phi lợi nhuận nhằm giúp đỡ những bệnh nhân nghèo gặp khó khăn khi ghép thận. Kêu gọi Bảo hiểm xã hội Việt Nam hỗ trợ chi trả và có biện pháp giúp người nghèo bằng các nguồn quỹ nhân đạo.
 
2.16. Đẩy mạnh mạng lưới điều phối ghép thận trên toàn quốc, mở rộng thêm các cơ sở ghép thận, đặc biệt tại các bệnh viện tỉnh, thành phố. Xây dựng ngân hàng tạng và xây dựng phần mềm để cập nhật danh sách người chờ ghép và người đăng ký hiến tạng để việc theo dõi và điều phối ghép tạng được thực hiện một cách chóng, công bằng.
 
2.17. Cần có cơ chế phối hợp giữa Bộ Y tế, Bộ Công an, Bộ Giao thông Vận tải trong vấn đề vận chuyển tạng người để phục vụ cho việc cấy ghép cứu người. Cần có đội ngũ công an hỗ trợ dẹp đường để xe vận chuyển tạng đến nới cấy ghép nhanh nhất. Ngoài ra, vấn đề an ninh sân bay cũng cần phải có cơ chế riêng cho các ca vận chuyển tạng người.
 
2.18. Bộ Y tế cần có điều luật về chết não được quy định rõ ràng hơn. Trước khi hiến tạng chết não, bệnh nhân phải được hội đồng chết não thông qua. Thành phần của hội đồng chết não phải được bổ nhiệm theo nguyên tắc không có thành viên nào là người của kíp ghép thận. Ngoài ra, cần có các văn bản hướng dẫn cụ thể cũng như phối hợp giữa y tế và công an trong các trượng hợp người hiến tạng có liên quan đến pháp luật hình sự./.

10 hoạt động nổi bật trong tháng


Quảng cáo