BỆNH ALZHEIMER

Cập nhật lúc : 07/06/2016 14:05

BÀI DỰ THI: CUỘC THI “GIẢI PHÁP SÁNG TẠO Y TẾ CỘNG ĐỒNG”
 
I. Đặt vấn đề
 
Bệnh nhân bị sa sút trí tuệ (Alzheimer): Theo ước tính của Hội Thần kinh Việt Nam, có tới 370.000 người bệnh bị Alzheimer. Theo thống kê chưa đầy đủ, mỗi năm chỉ có khoảng hơn 1.000 bệnh nhân được chẩn đoán Alzheimer và điều trị.
 
1. Giới thiệu.
 
Sa sút trí tuệ là gì?
 
Sa sút trí tuệ là một rối loạn của não bộ làm cho con người mất đi những chức năng trí nhớ và nhận thức bình thường trước đây của mình. Người bị sa sút trí tuệ gặp khó khăn trong ghi nhớ, học tập và giao thiệp. Sa sút trí tuệ cũng có thể làm người bệnh thay đổi khí sắc và cá tính. Sau một thời gian, bệnh sẽ làm cho họ không tự săn sóc được bản thân.
 
Nguyên nhân gây sa sút trí tuệ?
 
Bệnh Alzheimer, còn được gọi là lú lẩn tuổi già, là nguyên nhân hàng đầu của sa sút trí tuệ.Mặc dù các nhà khoa học đã biết rằng bệnh Alzheimer’s liên quan đến sự tổn thương không ngừng của tế bào não, thì nguyên nhân dẫn đến tình trạng này vẫn còn là điều bí ẩn. Bệnh ảnh hưởng chủ yếu đến những phần não kiểm soát sự suy nghĩ, trí nhớ và ngôn ngữ. Giảm trí nhớ là biểu hiện đầu tiên của bệnh. Sự xuất hiện các mảng amyloid bất thường và các đám rối sợi thần kinh trong tế bào não được xem là nguyên nhân gây ra chết tế bào não và teo não nặng nề trong bệnh Alzheimer. Yếu tố nguy cơ của bệnh Alzheimer bao gồm: gia đình có cha mẹ bệnh Alzheimer, lớn tuổi, giới nữ, trình độ học vấn thấp, tăng cao Appolioprotein E-4 bất thường, chấn thương đầu, chế độ ăn uống không hợp lý, cao huyết áp và tiểu đường.
 
2. Tình hình sa sút trí tuệ
 
Năm 1997, Prince MJ dự tính thế giới có tới 18 triệu người mắc sa sút trí tuệ, phần lớn tập trung ở khu vực các nước đang phát triển.
 
Ở Việt Nam, năm 2001 Viện Sức khỏe Tâm thần Quốc gia nghiên cứu ở Thái Nguyên cho biết tỷ lệ hiện mắc sa sút trí tuệ là 7,9%. Tỷ lệ đó tăng theo tuổi: nhóm tuổi 60 – 69 là 4,2%; nhóm tuổi 70 – 79 là 10,6%; trên 80 tuổi là 16,6%.
 
Năm 2005 – 2006, Phạm Thắng và cộng sự thấy ở Ba Vì thuộc Hà Tây (cũ), tỷ lệ hiện mắc suy giảm nhận thức nhẹ là 1,4% và sa sút trí tuệ là 4,63%.
 
Năm 2005, khoảng 5 triệu người Việt nam trên 65 tuổi. Theo dự đoán của Ủy Ban Dân Số, số lượng người dân trên 65 tuổi của năm 2020 và 2050 lần lượt là 8 triệu và 22 triệu người. Tất nhiên, số người bệnh sa sút trí tuệ sẽ gia tăng theo số lượng người già nếu chúng ta không có những biện pháp phòng ngừa hữu hiệu.
 
Nhìn chung sa sút trí tuệ tăng dần theo tuổi. Vào khoảng 40 tuổi, tỉ lệ sa sút trí tuệ chỉ chiếm 0,1% dân số; đến trên 65 tuổi, tỉ lệ này là 5-8%; sau 75 tuổi nó tăng lên 15-20%; và trên 85 tuổi, tỉ lệ sa sút trí tuệ chiếm đến 25-50% dân số. Sau 65 tuổi, tỉ lệ sa sút trí tuệ tăng gấp đôi mỗi 5 năm.
 
3. Các giai đoạn
 
Giai đoạn 1: Không có biểu hiện suy yếu.
 
Giai đoạn 2: Sự suy giảm nhận thức rất nhẹ.
 
Giai đoạn 3: Sự suy giảm nhận thức nhẹ.
 
Giai đoạn 4: Sự suy giảm nhận thức vừa phải.
 
Giai đoạn 5: Sự suy giảm nhận thức tương đối nghiêm trọng.
 
Giai đoạn 6: Sự suy giảm nhận thức nghiêm trọng.
 
Giai đoạn 7: Sự suy giảm nhận thức rất nghiêm trọng.
 
II. Phân tích nguyên nhân:

SSTT là một bệnh lý rất phổ biến ở người lớn tuổi với khoảng 25 triệungười trên thế giới bị SSTT, mỗi 5-9 giây có một ca mới mắc. Tuy nhiênrất nhiều trường hợp SSTT không được chẩn đoán.
 
Chẩn đoán SSTT rất ít được quan tâm vì:
 
- Người thân không nhận ra được dấu hiệu sớm của bệnh và không nhận thức được gánh nặng về gia đình và gánh nặng xã hội của căn bệnh do việc phổ biết y học thường thức về bệnh sa sút trí tuệ chưa phổ biến ở Việt Nam.
 
- Ở Việt Nam người dân khó tiếp cận được các dịch vụ y tế chuyên khoa sâu. Ở vùng sâu vùng xa chỉ có Y sỹ. Người dân không có thói quen khám bệnh định kỳ và có Bác sỹ gia đình.
 
- Kể cả khi gặp được nhân viên y tế là Bác sỹ đa khoa vì một lý do khác thì việc đánh giá chức năng nhận thức bằng các thang đánh giá quá mất thời gian và công sức, do đó họhường không tiến hành đánhgiá chức năng nhận thức của người bệnh thường quy, thậm chí khi BNthan phiền.
 
- Chưa có cách sàng lọc thường quy trên dân số nguy cơ để giới thiệu người bệnh đến thẳng cơ sở chuyên sâu về bệnh lý sa sút trí tuệ giúp tiết kiệm thời gian và chi phí.
 
III. Đề giải pháp:
 
Như chúng ta đã tìm hiểu ở trên, sa sút trí tuệ tăng dần theo tuổi. Vào khoảng 40 tuổi, tỉ lệ sa sút trí tuệ chỉ chiếm 0,1% dân số; đến trên 65 tuổi, tỉ lệ này là 5-8%; sau 75 tuổi nó tăng lên 15-20%; và trên 85 tuổi, tỉ lệ sa sút trí tuệ chiếm đến 25-50% dân số. Nhìn chung, sau 65 tuổi, tỉ lệ sa sút trí tuệ tăng gấp đôi mỗi 5 năm.
 
Phải chăng chúng ta nên sàng lọc, giúp phát hiện sớm bệnh sa sút trí tuệ đặc biệt là bệnh Alzheimer từ con số “tuổi tác”. Theo như tôi được biết ở Việt Nam có hội người cao tuổi đến từng phường xã, vậy quản lý người cao tuổi đã có tổ chức, và ở mỗi phường xã đều có cán bộ y tế, mà đa số cán bộ y tế là người dân ở đó nên:
 
- Nắm rất rõ về số lượng người cao tuổi ở địa phương.
 
- Các bệnh lý nội khoanhư cao huyết áp và tiểu đường, và các yếu tố nguy cơ khác của bệnh Alzheimer ngoài tuổi tácnhư gia đình có cha mẹ bệnh Alzheimer, giới nữ, trình độ học vấn thấp, chấn thương đầu, chế độ ăn uống không hợp lý.
 
Vậy giải pháp tôi đưa ra là: tận dụng sự có tổ chức của hội người cao tuổi và sự am hiểu về dân số bệnh của cán bộ y tế xã phường để sàng lọc ra dân số nguy cơ của bệnh SSTT và giúp phát hiện sớm bệnh bằng cách:
 
- Tổ chức tập huấn sơ lược về bệnh sa sút trí tuệ, và cách thức phát hiện bệnh cho cán bộ y tế xã phường do BS chuyên khoa Thần Kinh của bệnh viện tuyến huyện hoặc tuyến tỉnh.
 
- Lập một test đánh giá đơn giản có độ nhạy và độ đặc hiệu cao để cán bộ y tế địa phương thực hiện trên dân số nguy cơ hoặc dân số > 65 tuổi một cách thường quy. Nếu có dấu hiệu bệnh SSTT thì hướng dẫn bệnh nhân lên tuyến trên để được chẩn đoán chính xác và điều trị. Nếu chưa có dấu hiệu SSTT có thể lặp lại test từng năm và lưu giữ lại kết quả cũ để so sánh.
 
- Giúp người nhà dân số nguy cơ biết được tầm quan trọng của việc phát hiện bệnh ở giai đoạn sớm.Khoảng 2/3 trường hợp SSTT nhẹ và trung bình được phát hiện đầu tiên bởi người thân với các đặc điểm: nội dung lời nói kém dần, giảm mất cácchức năng sống nâng cao, không nhớ được 3 từ sau 5 phút và không vẽđược đồng hồ.
 
- Phát tờ rơi những dấu hiệu giúp nhận biết bệnh sớm và những vấn đề khó khăn về người chăm sóc, khinh phí chăm sóc cho bệnh BN SSTT đến từng nhà người cao tuổi hoặc dân số nguy cơ.
 
- Có thể dùng test MiniMINI-Cog của tác giả Borson và Scalan năm 2003 được đánh giá cao và đưa vào sử dụng trên lâm sàng
 
- Phát tờ rơi phổ biết về căn bệnh.
 
10 dấu hiệu cảnh báo bệnh Alzheimer (theo Hiệp hội bệnh Alzheimer Hoa Kỳ).
 
1. Mất trí nhớ gần: Người bệnh thường quên và không nhớ lại được. Họ có thể hỏi bạn lập đi lập lại một câu hỏi, mỗi lần họ đều quên rằng bạn vừa mới trả lời rồi. Họ có thể quên ngay những điều vừa mới nghe hoặc những điều vừa mới dự định làm.
 
2. Khó khăn trong việc thực hiện các công việc quen thuộc: Người bệnh có thể không còn nhớ ăn uống thế nào cho đúng cách hoặc không thể tự ăn uống được. Nặng nề hơn, người bệnh không thể tự là vệ sinh cá nhân, cần phải có sự giúp đỡ của gia đình.
 
3. Có các vấn đề về ngôn ngữ: Người bệnh có thể quên những từ đơn giản hoặc dùng từ không đúng. Điều này làm cho người khác khó hiểu được ý họ muốn nói. Hoặc người bệnh bị rối loạn phát âm: nói lắp, nói khó…
 
4. Rối loạn định hướng thời gian và vị trí: Người bệnh có thể bị lạc ở một nơi đã từng rất quen thuộc với họ, hoặc không nhớ được làm sao họ đến được nơi đó hoặc làm sao quay trở về nhà.
 
5. Giảm khả năng đánh giá: Người bệnh đôi khi chọn quần áo hoàn toàn không phù hợp với thời tiết hoặc với hoàn cảnh.
 
6. Có các vấn đề về tư duy, suy nghĩ trừu tượng: Người bệnh có thể không nhận ra được các con số hoặc không thực hiện được các phép tính đơn giản. Khả năng điều hành và sắp xếp công việc cũng bị giảm sút. 
 
7. Quên vị trí đồ vật: Người bệnh có thể để đồ vật vào chỗ hoàn toàn không thích hợp. 
 
8. Thay đổi khí sắc hoặc ứng xử: Người bệnh có thể thay đổi khí sắc một cách nhanh chóng, từ bình tĩnh sang khóc lóc âu sầu sang giận dữ trong vòng vài phút. 
 
9. Thay đổi cá tính: Sa sút trí tuệ làm cá tính người bệnh thay đổi trầm trọng. Họ có thể trở nên dễ kích động, nghi ngờ hoặc sợ sệt. 
 
10. Mất năng lực chủ động: Người bệnh có thể trở nên thụ động. Họ có thể mất đi sự say mê công việc, không quan tâm đến các thú vui của mình.
 
Nếu bạn nhận thấy bạn hoặc người mà bạn quen biết biểu hiện bất kì dấu hiệu nào trong 10 dấu hiệu cảnh báo của bệnh Alzheimer’s, đừng bỏ qua chúng. Hãy đưa bệnh nhân đến làm test chẩn đoán tại cơ sở y tế địa phương.
 
Giúp người nhà nhận thứcvới kết quả chẩn đoán sớm về bệnh Alzheimer, người bệnh có thể:
Hưởng lợi từ các phương pháp điều trị sẵn có. Các phương pháp điều trị bệnh Alzheimer’s có thể làm giảm các triệu chứng, giúp người bệnh duy trì năng lực lâu hơn. Người bệnh cũng có thể có nhiều cơ hội tham gia các đợt thử nghiệm thuốc lâm sàng nhằm nghiên cứu sâu hơn và cung cấp sự hiểu biết tốt hơn về căn bệnh này.
 
Tìm hiểu thêm về cách điều trị. 
 
Tìm hiểu thêm về các thử nghiệm lâm sàng.
 
Có nhiều thời gian hơn để lên kế hoạch cho tương lai – Sự chẩn đoán sớm bệnh Alzheimer’s cho phép gia đình bàn bạc và lên kế hoạch cho việc chăm sóc; vận chuyển; lựa chọn cách sống; bàn về vấn đề tài chính và pháp lý; cân bằng giữa công việc và nghĩa vụ chăm sóc người bệnh.
 
Nhận được sự giúp đỡ và hỗ trợ hiệu quả – Các dịch vụ chăm sóc và hỗ trợ sẵn có sẽ tạo điều kiện tốt hơn cho người bệnh Alzheimer’s và gia đình của họ có được cuộc sống tốt nhất có thể.
 
Người dự thi
BS. Mai Thị Thu Huyền.
BV Đa Khoa Bình Dương.

10 hoạt động nổi bật trong tháng


Quảng cáo