Alzheimer

Cập nhật lúc : 15/06/2016 09:01

BÀI DỰ THI
CUỘC THI “GIẢI PHÁP SÁNG TẠO Y TẾ CỘNG ĐỒNG”
 
Alzheimer là bệnh thoái hóa não nguyên phát, với biểu hiện mất trí nhớ tiến triển và không hồi phục. Tổn thương các tế bào thần kinh ở vỏ não và những cấu trúc xung quanh làm giảm sút trí nhớ, giảm phối hợp vận động, nhận cảm sai…, cuốicùng làm mất trí nhớ và các chức năng tâm thần kinh. Alzheimer chính là căn nguyên hàng đầu gây sa sút trí tuệ hiện nay.
 
Alzheimer được bác sĩ Alois Alzheimermô tả lần đầu tiên vào năm 1906. Bệnh nhân nữ có các rối loạn về trí nhớ và hành vi thường thấy ở những người già, như mất trí nhớ, mất phương hướng, rối loạn ngôn ngữ, mất khả năng suy luận, tính toán.., nhưng bà lại chỉ mới 51 tuổi. Bác sĩ Alois lúc đó không có cách điều trị nào cho bà, ngoài việc chăm sóc bà cho đến khi bà qua đời vào. Bác sĩ Alois Alzheimer đã nghiên cứu và mô tả bệnh này, sau này bệnh được đặt theo tên của ông. Thực tế đáng buồn là nếu như có một bệnh nhân tương tự bà Auguste Deter thì chúng ta cũng không làm gì được hơn nhiều so với những gì mà bác sĩ Alois đã làm hơn 100 năm về trước.
 
Alzheimer được nghiên cứu và khẳng định là tỉ lệ thuận với tuổi tác. Ngày xưa khi tuổi thọ trung bình của con người còn thấp, Alzheimer thường ít được phát hiện, hoặc là các triệu chứng nhẹ nên ít được quan tâm, hoặc là con người sẽ chết trước khi có biểu hiện bệnh Alzheimer. Nhưng với tốc độ già hóa dân số như hiện nay, tỉ lệ Alzheimer đang tăng đến chóng mặt, và sẽ được xem là “bệnh dịch” trong tương lai. Theo ước tính của Hội Thần kinh Việt Nam năm 2005, có tới 370.000 người mắc bệnh Alzheimer. Nhưng thực tế, có rất ít người bệnh được chẩn đoán và điều trị. Vậy, vì sao số lượng bệnh nhân mắc Alzheimer lại được phát hiện ít như vậy, và làm thế nào để gia tăng số lượng bệnh nhân được chẩn đoán? Đây có thể không phải là mối quan tâm hàng đầu đối với đa số các nước phát triển khác, nhưng chắc chắn là vấn đề đáng lưu ý đối với chúng ta. Những hàng rào ngăn cản việc phát hiện và chẩn đoán sớm Alzheimer có thể chỉ ra như sau:
 
Thứ nhất, người dân thiếu kiến thức và thiếu sự quan tâm đến bệnh.
 
Thật vậy, người dân Việt Nam đa số vẫn còn lạ lẫm với cái tên này. Tầng lớp trí thức cao còn ít, học sinh sinh viên biết tới bệnh này cũng còn hạn chế, chủ yếu vẫn chỉ là những người học và làm việc trong lĩnh vực y tế. Người già có biểu hiện lú lẫn sẽ được coi là bình thường của tuổi tác, hễ già rồi thì đương nhiên là không còn minh mẫn nữa. Người trung niên có triệu chứng khác thường về trí nhớ thì sẽ vin vào những lý do trong cuộc sống để giải thích cho trí nhớ bất thường của mình, như áp lực công việc, áp lực con cái, gia đình, mất ngủ hoặc do trước đây bị gây mê khi phẫu thuật… Hoặc giả sử có người được nghe về bệnh này thì cũng không coi nó là quan trọng, bởi lú lẫn chỉ một cái gì đó nhẹ nhàng, không thể dẫn đến cái chết, so với hàng loạt bệnh nguy hiểm đe dọa mạng sống hiện nay, như tim mạch, HIV, ung thư…Dân trí ở thành thị hầu như cao hơn vùng nông thôn, nên nhiều người sống ở nông thôn ít ai hiểu biết về bệnh Alzheimer và quan tâm đúng mức, nếu có thì với số lượng ít ỏi, cũng khó mà thay đổi nhận thức của phần đông người xung quanh.
 
Để cải thiện vấn đề này, tôi cho rằng các phương tiện truyền thông giữ một vai trò cực kỳ quan trọng. Sách vở, báo chí, loa đài, truyền hình, Internet…cần được tận dụng tối đa để phổ cập Alzheimer đến được người dân. Điều cần chú ý là khi phổ biến kiến thức, tuyệt đối không dùng từ ngữ chuyên môn gây khó hiểu và phức tạp, dễ khiến người nghe chán nản, tâm lý không muốn tìm hiểu. Định nghĩa đơn giản về bệnh, nguyên nhân gây bệnh, những yếu tố nguy cơ, triệu chứng, các biện pháp chẩn đoán và điều trị hiện có, những quan niệm sai lầm thường gặp, biến chứng bệnh, sự ảnh hưởng của bệnh đến bản thân, thân nhân và toàn xã hội.Hãy tích cực truyền thông, lặp đi lặp lại, so sánh Alzheimer với những bệnh mà đa phần mọi người đều biết để thấy sự đáng sợ của nó, loại bỏ những quan niệm sai lầm về Alzheimer.Hai vấn đề quan trọng nhất trong phổ cập là 10 dấu hiệu nghi ngờ và những lợi ích khi được chẩn đoán bệnh sớm. Kết quả truyền thông sẽ phần nào cung cấp kiến thức và dành được sự quan tâm đúng mức của mọi người.
 
Thứ hai, chưa có biện pháp chẩn đoán chắc chắn, các bác sĩ còn gặp khó khăn trong việc chẩn đoán.
 
Có rất nhiều nghiên cứu khoa học về Alzheimer được thực hiện ở nước ngoài, tuy nhiên ở Việt Nam còn hạn chế. Mọi kết luận về Alzheimer đều chưa chắc chắn, kể cả về nguyên nhân gây bệnh với hai giả thuyết đáng lưu ý là giả thuyết Protein TAU và giả thuyết Protein Amyloid-beta, tiêu chuẩn chẩn đoán xác định và cả biện pháp điều trị hay dự phòng. Thực hiện các test sàng lọc để đi đến khám chuyên sâu, chuyển đến bác sĩ phù hợp, đa số bệnh nhân được chẩn đoán sau khi đã loại trừ các nguyên nhân có thể gây mất trí nhớ.Sâu hơn nữa thì có thể chụp kiểm tra não như chụp cắt lớp vi tính (CT), chụp cộng hưởng từ (MRI), chụp phát xạ positron (PET), để định vị những bất thường. Tuy nhiên những kỹ thuật này đôi lúc khó áp dụng vì phức tạp và tốn kém.
 
Ở nước ta, nhiều bác sĩ vẫn chưa có kinh nghiệm trong chẩn đoán Alzheimer. Nhiều bác sĩ thường hay bỏ qua triệu chứng về trí nhớ, đặc biệt khi bệnh nhân còn trẻ. Do đó việc nâng cao trình độ chuyên môn cho các bác sĩ là rất cần thiết. Nên thành lập môn học về Alzheimer với nhiều mức độ, mức độ cơ bản cho hầu hết sinh viên y khoa và các mức độ cao hơn cho các bác sĩ chuyên khoa như Lão khoa, Thần kinh, Tâm thần học…Tài liệu giảng dạy cần được cập nhật liên tục.
 
Thứ ba, việc chẩn đoán mất nhiều thời gian.
 
Hiện nay, chưa có bệnh nhân nào chỉ cần qua một lần kiểm tra là xác định mắc Alzheimer hoặc các chứng bệnh mất trí nhớ liên quan. Thời gian cần để đưa ra chẩn đoán có thể khác nhau. Nếu cần thực hiện các kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh và các cuộc khám sàng lọc khác, quá trình chẩn đoán có thể kéo dài tè 4-8 tuần. Nếu một người mới đến với những triệu chứng không rõ ràng hoặc mới ở giai đoạn đầu thì có thể phải cần khoảng thời gian từ 6-12 tháng mới có thể thực hiện chẩn đoán. Việc chẩn đoán phức tạp, tốn kém thời gian và tiền bạc cũng là lý do đưa bệnh nhân và người nhà bệnh nhân đến việc từ chối tham gia khám và chẩn đoán.
 
Việc này không thể làm gì được hơn ngoài động viên, khuyến khích và hỗ trợ bệnh nhân tốt nhất có thể, giúp họ có động lực thực hiện việc chẩn đoán đến cùng.
 
Thứ tư, tâm lý ngại ngùng, lo lắng, sợ bị phát hiện mình mắc bệnh.
 
Khi đã hiểu biết về bệnh, thì không chỉ riêng Alzheimer mà đối với tất cả các bệnh khác, ai cũng sẽ e dè, lo sợ. Alzheimer là nguyên nhân hàng đầu khiến những bệnh nhân già được đưa vào viện dưỡng lão vì sự thay đổi tính cách và những hành vi quá lố. Đa số bệnh nhân ban đầu thường sẽ tìm cách phủ nhận, nói lảng, và đôi khi bịa chuyện để che giấu triệu chứng mất trí nhớ của mình. Nhưng theo thời gian thì không còn che đậy được nữa, và thân nhân thường là những người đầu tiên phát hiện ra. Do đó việc phổ cập kiến thức không những giúp người bệnh tự nhận thấy bất thường của mình mà còn giúp thân nhân người bệnh phát hiện sớm triệu chứng và đưa bệnh nhân đi khám sớm.
 
Xây dựng hệ thống bác sĩ gia đình cũng là một việc làm cấp thiết. Bác sĩ gia đình phải được phân bố ở nhiều cơ sở địa phương khác nhau, đảm bảo hỗ trợ khám và chữa bệnh tại các tuyến cơ sở. Bác sĩ gia đình sẽ là những người bạn thân thiết trong gia đình, nếu được đào tạo tốt, sẽ là chỗ dựa vững chắc cho nhiều bệnh nhân tuyến dưới. Người bệnh đặt lòng tin để thổ lộ các vấn đề cá nhân, có lợi thế khai thác tốt tiền sử bệnh sử, diễn biến tình trạng bệnh, tâm lý bệnh nhân và người nhà, từ đó sàng lọc, tư vấn và chuyển tuyến phù hợp, sẽ giúp xóa bỏ hàng rào mặc cảm tâm lý của bệnh nhân.
 
Khi kiến thức đã được phổ cập đến nhiều người, không nên quên động viên tinh thần, kêu gọi mọi người cảm thông, chia sẻ, giúp đỡ đến bản thân người bệnh và cả người chăm sóc, không kì thị xa lánh để mọi người mạnh dạn, ý thức phát hiện bệnh sớm.
 
Thứ năm, bệnh nhân Alzheimer không được quan tâm, hỗ trợ trong xã hội.
 
Ở nhiều nước trên thế giới, Alzheimer đang là mối quan tâm hàng đầu của nhiều nhà Lão khoa, nhà Tâm thần học, Di truyền học, các bác sĩ tâm lý…và cả cộng đồng nói chung. Tuy nhiên ở Việt Nam, người bệnh Alzheimer chưa có được nhiều sự quan tâm như vậy.
 
Về việc này theo tôi nên có ít nhất một tổ chức dành cho bệnh nhân Alzheimer trong nước, chẳng hạn như Hiệp Hội Alzheimer Việt Nam, cùng tham gia trao đổi, nghiên cứu với Hiệp Hội Alzheimer các nước khác và toàn thế giới, thường xuyên tổ chức các buổi hội nghị về Alzheimer để cập nhật kiến thức cũng như các thành quả nghiên cứu ở trong và ngoài nước, thúc đẩy và hỗ trợ, tạo điều kiện cho các y bác sĩ, nhà khoa học tiến hành nghiên cứu. Nên thành lập ít nhất một tạp chí hoặc tuần san riêng về Alzheimer. Thỉnh thoảng nên tổ chức những cuộc thăm khám sàng lọc tại các tuyến địa phương, đơn giản nhất là làm các bài test (thường dùng thang đánh giá Tâm thần tối thiểu MMSE), phỏng vấn các thành viên trong gia đình, từ đó tư vấn, củng cố thêm kiến thức cho mọi người.
 
Để hỗ trợ cho các gia đình có người thân bị Alzheimer, nên thành lập các hội ái hữu, câu lạc bộ của những thân nhân người bệnh, kêu gọi những người có mong muốn được giúp đỡ tập hợp lại, xây dựng các trung tâm chuyên chăm sóc và hỗ trợ chăm sóc trí nhớ, đào tạo cho họ cách chăm sóc bệnh nhân Alzheimer, tấm lòng cảm thông, yêu thương sâu sắc. Hãy cho những người bệnh Alzheimer biết rằng họ không cô đơn. Nếu làm được vậy, chắc chắn mọi người sẽ ý thức cao trong việc đi khám và phát hiện bệnh sớm.
 
Nói tóm lại, phát hiện sớm Alzheimer vẫn đang gặp nhiều khó khăn ở Việt Nam chúng ta, khiến nhiều người phải chịu nhiều áp lực vì người nhà của mình khi họ bị bệnh mà không được chẩn đoán, tư vấn và quan tâm chăm sóc đúng mức. Mong là tất cả mọi người hãy nâng cao ý thức trách nhiệm, mở rộng tấm lòng đối với những người bệnh Alzheimer và cả những người phải âm thầm chăm sóc họ trong tuyệt vọng và đau khổ. Dù cho bệnh chưa được chữa khỏi, nhưng phát hiện sớm giúp bệnh nhân có cơ hội quyết định cuộc đời mình.
LÊ THỊ CẨM HƯƠNG
KHOA RHM BỆNH VIỆN BÀ RỊA TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

10 hoạt động nổi bật trong tháng


Quảng cáo