Đái tháo đường

Cập nhật lúc : 20/06/2016 08:19

Tác giả: BS Nguyễn Hoàng Như Anh, BS Định Ngọc Bảo Châu
Đơn vị: Bệnh viện Mắt KTC Phương Nam TP HCM


Bài dự thi
>>> Xem tại đây

Đái tháo đường

Cập nhật lúc : 06/06/2016 10:46

BÀI DỰ THI
“GIẢI PHÁP SÁNG TẠO Y TẾ CỘNG ĐỒNG”

NGƯỜI DỰ THI: NGUYỄN THỊ PHƯƠNG LAN
CHỨC DANH: BS.CK 2 – CHUYÊN NGÀNH : TCQLYT. 
ĐƠN VỊ CÔNG TÁC: BỆNH VIỆN ĐKKV CỦ CHI
ĐỊA CHỈ: Ấp Bàu tre 2, Xã tân An Hội – huyện Củ Chi – TP.HCM

I.ĐẶT VẤN ĐỀ
 
Bệnh đái tháo đường (ĐTĐ) là một trong những bệnh mạn tính không lây, có tỷ lệ mắc mới cao và gia tăng nhanh, nguy cơ tử vong đứng hàng thứ năm ở các nước đang phát triển (22), gây nhiều biến chứng làm ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống. Nhiều nghiên cứu đã chứng minh lợi ích rỏ rệt của việc phòng chống bệnh ĐTĐ có hiệu quả như : Tiết chế, giảm cân, luyện tập thể dục đều đặn…
 
Việt Nam là một nước nằm trong khu vực Châu Á Thái Bình Dương. Phát triển nông nghiệp là chủ yếu. Tác động của cơ chế kinh tế thị trường trong xu thế đẩy mạnh công nghiệp hóa góp phần làm thay đổi mô hình bệnh tật . Sự gia tăng nhanh của bệnh ĐTĐ và một số bệnh mạn tính không lây tại Việt Nam gia tăng không nằm ngoài qui luật của những nước đang phát triển theo y tế thế giới đã nhận định và lên tiếng cảnh báo.Ước tính có 5,7% dân số Việt Nam mắc bệnh ĐTĐ; Có 60% chưa được chẩn đoán(khoảng 3 triệu người). Tần xuất ĐTĐ đang gia tăng và nhiều bệnh nhân ĐTĐ chưa được chẩn đoán. Đây là hai vấn đề quan trọng cần phải giải quyết. Tuy nhiên, trong việc giải quyết các vấn đề sức khỏe thì không một quốc gia nào có thể giải quyết tất cả các vấn đề sức khỏe cùng một lúc vì nhiều lý do. Do vậy việc xác định vấn đề sức khỏe ưu tiên và nguy cơ tác hại của vấn đề là thật sự cần thiết để có chiến lược can thiệp khả thi.
 
Phân tích nguyên nhân nhằm tìm ra các giải pháp để có thể phát hiện sớm bệnh ĐTĐ nhằm giảm số lượng bệnh nhân ĐTĐ chưa được chẩn đoán. Đây là một vấn đề thật sự cần thiết do đặc tính và tác hại của bệnh ĐTĐ đối với sức khỏe và chất lượng cuộc sống của người bệnh cũng như gánh nặng kinh tế do chi phí khám chữa bệnh mang đến
 
Hưởng ứng cuộc thi “ Giải pháp sáng tạo Y tế cộng đồng ” với mong muốn được chia sẻ cùng các bạn trẻ các ý tưởng để các bạn tiếp tục thực hiện mơ ước của bản thân trong sự nghiệp “Chăm sóc, bảo vệ sức khỏe cho toàn dân ” trong giai đoạn kiến thiết đất nước với mô hình bệnh tật thay đổi theo xu thế phát triển chung. Đó là niềm vui, niềm hạnh phúc của người Thầy thuốc đi trước.

II. PHÂN TÍCH NGUYÊN NHÂN
 
Tổ chức y tế thế giới cảnh báo thế kỷ 21 là thế kỷ của đại dịch đái tháo đường, tim mạch và ung thư. Những nước đang phát triển trong đó có Việt Nam. Phân tích các nguyên nhân làm gia tăng bệnh ĐTĐ và vì sao còn nhiều bệnh nhân ĐTĐ chưa được chẩn đoán. Chúng ta thấy có 2 nhóm lớn: Nhóm gồm những nguyên nhân do sự thiếu hiểu biết hoặc do thói quen lâu dần thành ý thức; Nhóm gồm những nguyên nhân thuộc về sự quản lý tầm soát ban đầu của hệ thống y tế cơ sở. Bao gồm:
 
1. Thay đổi thói quen ăn uống: 
 
Ngày nay, với nhịp sống hối hả của thời đại công nghiệp hóa. Tỉ lệ ăn cơm trong gia đình truyền thống giảm đáng kể. Bên cạnh việc ra đời các loại thức phẩm chế biến sẳn với nhiều năng lượng, việc hình thành các quán nhậu buôn bán đầy rượu thịt luôn luôn tấp nập người ra vào từ dân thường đến cán bộ công viên chức… Những bửa ăn gia đình cơm cá canh rau đơn giản mất dần. Thay bằng các bửa ăn thịnh soạn đầy cá tôm, rượu thịt thừa mứa, người ta ép nhau ăn và uống rượu ngày càng tăng. Điều này cũng làm tăng dần thói quen ăn nhiều đạm, nhiều chất bột đường và thói quen uống rượu. Tất cả các thói quen này đều không có lợi cho sức khỏe.
 
2. Tăng tỷ lệ dư cân béo phì: 
 
Tỷ lệ thừa cân, béo phì ở Việt Nam tăng nhanh. Có khoảng 7 triệu người – 8% dân số. Tại các thành phố lớn như Hà Nội, TP> Hồ Chi Minh tỷ lệ thừa cân béo phì lên đến 30%. Do thói quen xấu: Xem Tivi suốt ngày, giao tiếp qua điện thoại ít đi lại, đi lại bằng phương tiện giao thông cơ giới và quan niệm xã hội lổi thời khi cho rằng mập mạp là khỏe mạnh là giàu sang phú quí. Thừa cân, béo phì gia tăng nguy cơ mắc nhiều bệnh mạn tính trong đó có ĐTĐ. Tăng cân 11- 18pounds sẽ gia tăng nguy cơ phát triển ĐTĐ typ 2 gấp 2 lần so với người bình thường và trên 80% người ĐTĐ là người thừa cân béo phì.
 
3. Ít vận động thể lực: 
 
Các nghiên cứu gần đây cho thấy nguy cơ tương đối của ĐTĐ typ2 giảm vào khoảng một nữa ở những người luyện tập từ 5 lần đến hơn 5 lần trong tuần so với người chỉ luyện tập một lần/ tuần. Tại các thành phố lớn sự ra đời của các tòa nhà cao tầng, nhà hàng, khách sạn đã thu hẹp dần diện tích và số lượng các công viên nơi người ta thường tụ tập cho các hoạt động thể lực vào buổi sáng – chiều tối hay các ngày cuối tuần. Sự ra đời của một số phòng tập chuyên nghiệp cũng chỉ đáp ứng cho một số ít người có ý thức và có thu nhập cao
 
4. Tăng tuổi thọ: 
Theo thống kê mới nhất tuổi thọ trung bình của người Việt Nam là 71,3 tăng 6 tuổi chỉ trong vòng nữa thập kỷ. Đặc điểm nổi bật nhất trong quá trình lão hóa cơ thể là sự thu hẹp tuần tiến dự trữ ổn định nội môi của mọi hệ thống trong cơ thể. Do vậy có những biến đổi liên quan đến tuổi tác và hệ quả của chúng là một số bệnh có liên quan trong đó bệnh ĐTĐ là khó tránh khỏi do việc giảm hằng định Glucose của cơ quan nội tiết.

III. CÁC GIẢI PHÁP : 
Để thực hiện các giải pháp có hiệu quả cần phân biệt rỏ hai nhóm nguyên nhân:
 
1. Thay đổi hành vi bằng cách thay đổi nhận thức, thói quen: Thói quen ăn uống, thói quen vận động thể lực – Qua giáo dục và truyền thong giáo dục sức khỏe
 
Để có thể hạn chế “Đại dịch của thế kỷ” ngành y tế dù có phát triển vượt trội cũng không thể nào ngăn chặn sự gia tăng của ĐTĐ. Do vậy việc phối hợp liên ngành là thật sự cần thiết. Cụ thể: 
 
+ Ngành giáo dục phải đưa chương trình dạy nhằm cung cấp kiến thức ngay từ bậc giáo dục nhà trẻ, mầm non duy trì chương trình dạy ở tất cả các cấp với nội dung phù hợp. Nhằm tập cho các em có thói quen dinh dưỡng hợp lý và nguy cơ của việc thừa cân, béo phì cũng như lơi ích của việc rèn luyện thể chất hay luyên tập thể dục. 
 
+ Cùng với ngành y tế phát động và duy trì chương trình “GIÁO DỤC THỂ CHẤT – PHÁT TRIỂN GIỐNG NÒI” để đưa hoạt động truyền thông giáo dục sức khỏe vào học đường cho các đối tượng trẻ em.
 
+ Đối với người lớn tăng cường các hoạt động truyền thông giáo dục sức khỏe bằng nhiều hình thức phong phú và đa dạng. Ưu tiên cho các kênh truyền thông rộng, thu hút như hệ thống báo, đài, truyền hình…
 
2. Cải cách hệ thống y tế nhằm tầm soát và quản lý tốt các đối tượng có nhiều nguy cơ: 
 
Chúng ta đã có hệ thống y tế xuyên suốt từ Trung ương đến tuyến y tế cơ sở với những chương trình y tế trọng điểm và sự góp sức của tuyến y tế cơ sở đã khống chế và đẩy lùi một số dịch bệnh nguy hiểm như: Đậu mùa, dịch hạch, thương hàn….Tuy nhiên song hành cùng hệ thống y tế công. Sự ra đời của hệ thống y tế tư được quản lý giám sát tốt chắc chắn sẽ gia tăng việc phát hiện làm tăng tỷ lệ phát hiện sớm bệnh ĐTĐ được theo dõi điều trị. Điều này khẳng định được vai trò tích cực của hệ thống Y HỌC GIA ĐÌNH trong việc quản lý tầm soát đối tượng có nguy cơ theo tiền căn gia đình; theo bệnh lý được theo dõi từ cây phả hệ. Cụ thể:
 
+ Nhanh chóng thiết lập hệ thống Y HỌC GIA ĐÌNH hoạt động song hành với hệ thống y tế tuyến cơ sở.
 
+ Các trạm y tế tổ chức định kỳ việc tầm soát, phát hiện sớm và quản lý tốt: Cho đối tượng có nguy cơ bị ĐTĐ, Thừa cân, béo phì, gia đình có người ĐTĐ, người ít có 
 
IV. KẾT LUẬN
Một giải pháp cộng đồng căn cơ và khả thi nhằm khống chế bệnh ĐTĐ và tăng tỷ lệ phát hiện bệnh sớm là một giải pháp phải có sự phối hợp giữa y tế và giáo dục trong việc cung cấp kiến thức nhằm thay đổi nhận thức thói quen. Cũng như việc phát hiện bệnh sớm cần phải có sự tầm soát và quản lý chặt bởi hai hệ thống y tế hoạt động song hành tích cực đó là Y tế tuyến cơ sở và Y học gia đình. 
 
Thiết lập hệ thống “ Bác sĩ gia đình” nhằm bổ sung để tăng cường hiệu quả chăm sóc sức khỏe cộng đồng, tầm soát và khống chế dịch bệnh là một trong những chiến lược đúng đắn phù hợp xu thế phát triển hội nhập của ngành y tế Việt Nam trước những thách thức mới ./.
 
BS.CK2 NGUYỄN THỊ PHƯƠNG LAN
 
 
 
 
 

Đái tháo đường

Cập nhật lúc : 08/06/2016 08:42

I.Thực trạng ĐTĐ của VN hiện nay:
 
Theo số liệu của Hội Nội tiết Đái tháo đường Việt Nam, ước tính có 5,7 % dân số Việt Nam mắc bệnh ĐTĐ( hơn 4 triệu, trong đó 60% chưa được chẩn đoán phát hiện ĐTĐ( 3 triệu người). Đây là một bệnh gây ra nhiều biến chứng nguy hiểm có nguy cơ tử vong cao, gây nhiều gánh nặng cho người bệnh, gia đình và xã hội. Vì vậy cần được quan tâm, phòng ngừa và phát hiện sớm để giảm thiểu rủi ro do ĐTĐ gây nên. 
 
II.Các type ĐTĐ:
 
1. ĐTĐ type 1: cơ thể không sản xuất đủ insulin, bao gồm các nguyên nhân:
 
-Di truyền : sự gia tăng thường xuyên của kháng nguyên HLA.
 
- Môi trường :hậu quả của nhiễm trùng, nhiễm độc làm tổn thương tụy, hệ thống miễn dịch tấn công và phá hủy tế bào beta tụy. Yếu tố môi trường kết hợp với tổn thương chức năng tế bào đảo tụy bao gồm virus, tác nhân độc hóa học và các chất độc hủy hoại tế bào khác.
 
-Miễn dịch :
 
MD thể dịch: tự kháng thể kháng tế bào tiểu đảo (ICA).
 
MD tế bào: rối loạn tế bào lympho.
 
2. ĐTĐ type 2: cơ thể sản xuất insulin nhưng không thể sử dụng tốt.
 
- Di truyền: yếu tố di truyền là trội được gợi ý sau khi nghiên cứu ở các cặp song sinh giống nhau, nếu một người mắc ĐTĐ thì người còn lại cũng chắc chắn mắc ĐTĐ.
 
- Môi trường:
 
. tuổi, béo phì, ít hoạt động.
 
. rối loạn chức năng tế bào beta.
 
3.ĐTĐ thai nghén:

Là tình trạng rối loạn dung nạp glucose máu với các mức độ khác nhau, khởi phát hay được phát hiện đầu tiên khi có thai.Không loại trừ tình trạng rối loạn chuyển hóa glucose đã xảy ra trước hay xảy ra cùng lúc khi có thai mà không được nhận biết trước đó.
 
III. Các yếu tố nguy cơ:
 
Việc tầm soát để phát hiện ra các cá thể có nguy cơ bị bệnh đái tháo đường đã được các chuyên gia về đái tháo đường trên toàn thế giới đề nghị do khả năng phòng ngừa hay làm chậm lại tiến triển của bệnh, đặc biệt là các biến chứng tổn thương mạch máu nhỏ và mạch máu lớn gây nên bệnh tim mạch và tử vong. Hội Đái tháo đường Hoa kỳ (ADA) cho rằng nên cân nhắc cho làm xét nghiệm tầm soát đái tháo đường ở tất cả những người từ 45 tuổi trở lên, hoặc với những người thừa cân (BMI > 25 kg/m2) và có một hay nhiều các yếu tố nguy cơ dưới đây:
 
• Ít vận động thể lực.
 
• Có người trực hệ trong gia đình bị đái tháo đường.
 
• Là thành viên của chủng tộc/sắc tộc có nguy cơ cao (Ví dụ: Người Mỹ gốc châu Phi, gốc La-tinh, Người Mỹ bản địa, Người Mỹ gốc châu Á, cư dân các đảo vùng Thái Bình Dương)
 
• Phụ nữ sinh con cân nặng lúc sinh > 4 kg hay đã được chẩn đoán đái tháo đường trong thai kỳ
 
• Tăng huyết áp (> 140-90 mmHg hay đang điều trị tăng huyết áp)
 
• Nồng độ HDL cholesterol < 35 mg/dl (0,90 mmol/L) và/hoặc nồng độ triglyceride > 250 mg/dl (2,82 mmol/L)
 
• Phụ nữ bị hội chứng buồng trứng đa nang (PCOS)
 
• A1C > 5,7, rối loạn dung nạp glucose (IGT), hay rối loạn đường huyết lúc đói (IFG) trong lần xét nghiệm trước
 
• Các bệnh cảnh lâm sàng khác kèm theo với đề kháng insulin (Ví dụ: béo phì nặng, bệnh gai đen [acanthosis nigricans])
 
• Tiền sử có bệnh tim mạch
 
Các nguy cơ bệnh đái tháo đường phát sinh do tính di truyền, lối sống, và tình trạng sức khỏe. Đái tháo đường tuýp 1, kèm theo với cơ địa di truyền hay gien nhạy cảm, không thể phòng ngừa hay làm chậm lại diễn tiến bệnh được nhưng sự khởi phát của đái tháo đường tuýp 2 có thể dự báo trước và điều chỉnh được.
 
IV. Biện pháp phát hiện sớm bệnh nhân ĐTĐ:

Biện pháp cụ thể để tầm soát bệnh ĐTĐ ở cộng đồng: 
 
Bước 1: Tại mỗi địa phương cần tuyên truyền về tình hình và tác hại của bệnh ĐTĐ hiện nay trên loa, đài 1 cách thường xuyên và có kế hoạch sẽ tầm soát bệnh ĐTĐ tại mỗi trạm y tế của địa phương cho người dân biết. 
 
Bước 2: Lồng ghép các cuộc tuyên truyền, phát tờ rơi ( có file đính kèmTờ rơi.doc) về bệnh ĐTĐ vào các cuộc họp tại địa phương như: họp tổ dân phố, họp hội phụ nữ, hội người cao tuổi, hội cựu chiến binh... trước mỗi cuộc họp cần có sự hợp tác giữa nhân viên y tế và người đứng đầu mỗi cuộc họp, cần thông báo trước cho người dân biết.
 
Bước 3: thông báo chính xác ngày diễn ra trên loa đài hoặc gửi giấy mời để người dân biết. Dặn người dân trước khi đến khám không nên ăn sáng.
 
Bước 4:tại trạm y tế:
 
- Đo chiều cao, cân nặng, tính BMI.
 
- Đo huyết áp.
 
- Test glucose máu bằng máy đo đường huyết. Đường huyết bình thường trước khi ăn nên ở mức 70- 130mg/dL ( khoảng 4-7 mmol/l )( theo khuyến cáo của Hiệp hội tiểu đường Mỹ).
 
- Sử dụng bộ câu hỏi trắc nghiệm đánh giá:
 
1.Tuổi của Ông/bà?
 
a, < 45 tuổi b, >45 tuổi
 
2.Ông/bà cho biết thông tin sau: 
 
Cân nặng:.. (kg) Chiều cao: .. (m)
 
BMI : được tính bằng cách chia cân nặng (kg) cho chiều cao bình phương (m) (Cán bộ y tế sẽ tính số này). 
 
a, BMI<23 b, BMI 23-25 c, BMI>25
 
3.Ông/bà tập thể dục/ lao động chân tay: 
 
a, <30 phút/ ngày b, >30 phút/ ngày
 
4.Ông/bà đã bao giờ bị chẩn đoán là cao huyết áp không? 
 
a, Có b, Không
 
5.Gia đình Ông/bà (Cha mẹ, anh chị em ruột) có ai mắc Đái tháo đường không? 
 
a, Có b, Không
 
6.Ông/bà có bao giờ bị chẩn đoán là tăng đường máu chưa? (Trong các cuộc khám kiểm tra sức khỏe, trong thời gian bị ốm, hoặc trong quá trình mang thai) 
 
a, Có b, Không
 
- Câu hỏi
 
- Ông bà hãy điền dấu X và cho biết thông tin vào câu hỏi dưới đây
 
- Nếu bệnh nhân có chỉ số glucose máu đo bằng máy đo đường huyết cao(>=7 mmol/l) hoặc thuộc nhóm người có các yếu tố nguy cơ cao như đã trình bày ở trên thì khuyên bệnh nhân nên đến các bệnh viện hay phòng khám chuyên khoa để xét nghiệm đường máu và chẩn đoán một cách chính xác.
 
-Đối với những bệnh nhân không có đường máu cao hoặc không nằm trong nhóm yếu tố nguy cơ thì nên khuyên bệnh nhân kiểm tra đường máu định kỳ từ 6 tháng đến 1 năm. Phát tờ rơi về các dấu hiệu phát hiện sớm cũng như phòng ngừa ĐTĐ và cho bệnh nhân những lời khuyên về cách phòng chống bệnh ĐTĐ như:
 
• Chủ động phát hiện sớm các nguy cơ để chủ động phòng chống bệnh:
 
+ Gia đình có bố mẹ, anh chị em ruột mắc bệnh ĐTĐ.
 
+ Béo phì (BMI ≥ 25), đặc biệt là béo bụng: nam vòng bụng > 90 cm, nữ > 80 cm.
 
+ Vận động thể lực < 3 lần/ tuần, < 30 phút/ mỗi lần.
 
+ Phụ nữ có tiền sử chẩn đoán ĐTĐ thai kỳ, hoặc sinh con > 4 kg.
 
+ Đã được chẩn đoán tiền đái đường
 
+ Rối loạn mỡ máu và / hoặc tăng huyết áp ≥ 140/90 mmHg.
 
• Cần nghĩ tới khả năng bị ĐTĐ khi có các biểu hiện:
 
+ Mệt mỏi, gầy sút 2- 15 kg kéo dài trong nhiều tháng.
 
+ Tiểu nhiều 3 - 10 lít/ ngày, khát nhiều, uống nhiều, có dấu hiệu mất nước
 
+ Cảm giác đói nhiều, ăn nhiều.
 
+ Da dễ bị ngứa, hay nhiễm trùng, lâu lành vết thương.
 
+ Giảm thị lực.
 
+ Chuột rút cẳng chân vào ban đêm, tê bì tay chân.
 
+ Giảm khả năng tình dục, liệt dương, rối loạn kinh nguyệt.
 
+ Người già có tình trạng lú lẫn, chóng mặt, ngã.
 
• Ăn uống lành mạnh:
 
+ Bữa ăn cân đối 4 nhóm thực phẩm: cơm từ gạo nguyên chất, gạo lức, ăn nhiều rau và cá, không ăn nhiều thịt và chất béo.
 
+ Ăn nhiều hoa quả, tránh hoa quả có đường cao. Ăn các loại hạt họ đậu, vừng, lạc.
 
+ Tăng cường ăn thực phẩm tươi và các món luộc
 
+ Hạn chế ăn mặn: < 5g muối/ người/ ngày
 
+ Chọn sữa gầy, sữa đậu nành, các loại phomai ít béo
 
+ Uống nước chè, nước vối, không uống nhiều nước ngọt, hạn chế thức ăn có hàm lượng đường cao.
 
• Xét nghiệm đường máu hằng năm để phát hiện và xử trí sớm từng giai đoạn tiền đái tháo đường.

Đái tháo đường

Cập nhật lúc : 08/06/2016 09:16

Đái tháo đường là bệnh lý mạn tính đặc trưng bởi tình trạng tăng glucose máu mạn tính với các rối loạn chuyển hóa carbonhydrat, lipid và protein do các khiếm khuyết về bài tiết Insulin, hoạt động của Insulin hoặc cả hai. Tăng đường huyết mạn tính trong đái tháo đường dẫn đến những tổn thương, rối loạn chức năng và suy yếu nhiều cơ quan, đặc biệt là mắt, thận, thần kinh, tim và mạch máu. (WHO 1999).
 
Về dịch tế học, đái tháo đường typ 2 chiếm đa số, đến 90-95% tổng số bệnh nhân đái tháo đường, ĐTĐ typ 1 chiếm 5-10%, các typ ĐTĐ đặc biệt chiếm tỷ lệ rất thấp. Những thay đổi gần đây về dịch tễ học ĐTĐ trên thế giới lien quan ĐTĐ typ2. ĐTĐ typ 2 được coi là đại dịch của thế kỉ 21 với các đặc điểm:
 
- Tỷ lệ ĐTĐ đang tăng nhanh trên toàn thế giới, đặc biệt các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam. Số lượng người mắc ĐTĐ trên thế giới tăng từ 110 triệu năm 1995 lên 157 triệu (5% dân số toàn cầu) năm 2000 và 387 triệu (8,3% dân số toàn cầu) năm 2014, ước tính tăng lên 592 triệu vào năm 2035. (IDF 2014)
 
- Sự trẻ hóa của ĐTĐ typ 2. Ngưỡng tuổi phân biệt ĐTĐ typ1 và ĐTĐ typ 2 trước đây là trên 40 tuổi đã giảm xuống 30. ĐTĐ đã xuất hiện với tỷ lệ không nhỏ ở thanh niên, thậm chí thiếu niên.
 
- Tỷ lệ bệnh ĐTĐ typ 2 không được phát hiện rất cao, chiếm khoảng 50% trên toàn thế giới và 60% ở Việt Nam (Hội Nội tiết - Đái tháo đường Việt Nam).
 
Bệnh ĐTĐ typ 2 phát triển qua nhiều giai đoạn trong thời gian nhiều năm. Ban đầu là kháng Insulin liên quan đến ít hoạt động thể lực và thừa cân/ béo phì đi kèm với tình trạng kháng Insulin mang tính di truyền. Theo thời gian, khả năng bài tiết Insulin giảm dần không bù được tình trạng kháng Insulin, Glucose máu tăng và ĐTĐ xuất hiện. 
 
ĐTĐ typ 2 biểu hiện rất đa dạng, phụ thuộc vào giai đoạn và các biến chứng, chủ yếu là mạn tính của bệnh. Bệnh thường không có triệu chứng lâm sàng ở giai đoạn đầu, kéo dài nhiều năm, chỉ được phát hiện bằng xét nghiệm Glucose máu, nhiều trường hợp được phát hiện tình cờ khi khám sức khỏe, sàng lọc ĐTĐ hoặc tình cờ phát hiện khi mắc các bệnh khác. ĐTĐ typ 2 cũng có thể được phát hiện khi đi khám vì các biến chứng của bệnh như biến chứng võng mạc, đục thủy tinh thể, vết thương lâu lành, bệnh động mạch vành… Các triệu chứng lâm sàng của tăng glucose máu xuất hiện muộn sau nhiều năm và tăng dần khi glucose máu tăng cao đi kèm glucose niệu gây tăng bài niệu thẩm thấu, mất nước, gầy sút cân… 
 
Trên đây chính là lý do ĐTĐ typ 2 thường được chẩn đoán muộn vì có giai đoạn không triệu chứng hoặc triệu chứng mờ nhạt trong thời gian nhiều năm. Việc phát hiện sớm bệnh nhân Đái tháo đường, giảm số lượng bệnh nhân chưa được chẩn đoán, thậm chí ngay cả giai đoạn tiền đái tháo đường để điều trị bệnh và dự phòng các biến chứng của bệnh hiệu quả đang là vấn đề cộng đồng được đặt ra hiện nay.
Việc sàng lọc đái tháo đường nên được tiến hành tại các đơn vị trung tâm y tế cấp cơ quan, xã, huyện. Sàng lọc đái tháo đường được sàng lọc ở những người có nguy cơ cao bị đái tháo đường:
 
Người trưởng thành có BMI ≥23 kg/m2 hoặc người có hơn 1 trong số các nguy cơ sau (Khuyến cáo của Hội Nội tiết – Đái tháo đường Việt Nam):
 
- Ít hoạt động thể lực
 
- Có người thân đời thứ nhất bị ĐTĐ
 
- Phụ nữ đẻ con >4 kg, hoặc đã được chẩn đoán ĐTĐ thai kỳ
 
- Tăng huyết áp
 
- HDL cholesterol ≤35 mg/dL (0,9 mmol/L) và/hoặc triglyceride >259 mg/dL (2,8 mmol/L)
 
- Vòng eo ≥90 cm ở nam và ≥80 cm ở nữ
 
- Phụ nữ bị hội chứng buồng trứng đa nang
 
- A1C ≥5,7%, RL dung nạp glucose, hoặc tăng ĐH lúc đói ở những lần xét nghiệm trước
 
- Các tình trạng lâm sàng khác phối hợp với kháng insulin
 
- Tiền sử bệnh tim mạch
 
Những người có yếu tố nguy cơ mắc ĐTĐ týp 2 nhưng test sàng lọc âm tính cần được sàng lọc định kỳ 1 – 3 năm/lần tùy thuộc vào mức độ nguy cơ cao hay thấp (số lượng yếu tố nguy cơ và mức độ nặng của các yếu tố nguy cơ).
 
Tuyên truyền để người dân và cộng đồng hiểu được ý nghĩa của việc sàng lọc phát hiện sớm ĐTĐ,đối tượng nên được thực hiện sàng lọc thông qua cấp phát tờ rơi tuyên truyền xuống tận trạm y tế xã, phường, thị trấn, thông qua các áp phích để truyền thông cộng đồng. Biên tập các bài phát thanh nêu rõ các đối tượng nên được sàng lọc dựa trên khuyến cáo của Hội Nội tiết- Đái tháo đường Việt Nam, triệu chứng lâm sàng, chẩn đoán, các biến chứng của bệnh cũng như các biện pháp dự phòng bệnh phát trên loa truyền thanh xã, phường, thị trấn để nhân dân hiểu rõ hơn về căn bệnh và có thái độ chủ động trong khám sàng lọc, phát hiện sớm bệnh ĐTĐ.
 
Các hội Đái tháo đường cấp cơ sở như xã, phường, huyện nên được thành lập và duy trì sinh hoạt của hội thường xuyên ít nhất 1 tháng/ lần. Việc thành lập hội vừa là nơi để các bệnh nhân đái tháo đường chia sẻ điều trị như thực hiện chế độ ăn uống luyện tập, chế độ dùng thuốc, phát hiện và xử trí hạ đường huyết, theo dõi glucose máu, xử lý khi đau ốm… vừa là một địa chỉ tin cậy để người thân của bệnh nhân đái tháo đường, những người tiền đái tháo đường hoặc những người yếu tố nguy cơ cao mắc đái tháo đường tìm đến để thu nhận những thông tin về căn bệnh, giúp mọi người có hiểu biết hơn về căn bệnh này và mọi người sẽ đi khám và làm các xét nghiệm cần thiết khi thấy bản thân hay người thân có nguy cơ mắc bệnh, giúp phát hiện sớm bệnh nhân đái tháo đường, giảm số lượng bệnh nhân chưa được chẩn đoán hiện nay.
 

Đái tháo đường

Cập nhật lúc : 15/06/2016 09:12

BÀI DỰ THI
GIẢI PHÁP SÁNG TẠO - Y TẾ CỘNG ĐỒNG
 
Nhóm thực hiện: Sinh viên y đa khoa trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch
NGUYỄN DUY QUỐC KHÁNH Y2012A - NGUYỄN VÕ VĂN HIẾN Y2012B
 
1. Tổng quan về bệnh đái tháo đường

- Đái tháo đường (ĐTĐ) là một nhóm bệnh lý chuyển hóa, đặc trưng bởi tăng đường huyết do sự khiếm khuyết tiết Insulin và/hoặc sự suy giảm hoạt tính Insulin.Tăng đường huyết có thể gây ra các biến chứng cấp tính, tình trạng dễ bị nhiễm và về lâu dài, gây tổn thương, rối loạn và suy giảm chức năng của các cơ quan khác nhau, đặc biệt là mắt, thận, thần kinh, tim và mạch máu. Do đó, ĐTĐ là thuật ngữ chỉ một phạm vi rộng các bệnh không đồng nhất, có bệnh nguyên và cơ chế bệnh sinh phức tạp. 
 
- ĐTĐ có thể khởi phát ở mọi lứa tuổi, tỷ lệ chung ở nam và nữ tương đương nhau. Trong só trường hợp bệnh, theo bệnh nguyên, ĐTĐ type II chiếm 85% - 95%, ĐTĐ type 1 khoảng 3 -5% và các nguyên nhân khác là 3% , thay đổi tùy theo vùng và chủng tộc. [1]

2. Tác động xã hội và cá nhân ĐTĐ

2.1 Tác động xã hội
 
- Tác động của tử vong và biến chứng sớm do ĐTĐ lên sức sản xuất, chi phí tài chính và xã hội là rất lớn. Vai trò và vị trí của người đàn ông với tư cách là người lao động chính trong gia đình và của người phụ nữ với tư cách là người quản lý, chăm sóc gia đình bị ảnh hưởng nghiêm trọng do bệnh ĐTĐ và các biến chứng của bệnh. Về thực chất điều này đồng nghĩa với việc gia tăng sự căng thẳng về tài chính, thể chất và tâm lý trong gia đình người bệnh.
 
2.2 Tác động cá nhân
 
- Đối với cá nhân khi được chẩn đoán ĐTĐ, người bệnh thường có chấn thương lớn về tâm lý. Họ sẽ buộc phải có những thay đổi về quan niệm và lối sống, bao gồm việc hoạch định và sắp xếp thời gian ăn uống, thường xuyên tự kiểm tra đường máu, tiêm Insulin hoặc uống thuốc; điều chỉnh và thận trọng đối với hoạt động thể lực, để phòng chống các biến chứng trước mắt và lâu dài. Người mắc ĐTĐ luôn bị đe dọa bởi các biến chứng cấp và mạn tính. Nguy cơ hạ đường huyết hoặc nhiễm khuẩn thông thường cũng có thể trở nên nguy hiểm đối với tính mạng của họ.[2]
 
3. Tình hình ĐTĐ hiện nay của Việt Nam
 
- Tỷ lệ mắc bệnh ĐTĐ, bệnh tiền ĐTĐ và ĐTĐ thai kỳ ở Việt Nam là tương đối thấp so với thế giới, nhưng đang gia tăng với tốc độ đáng báo động. Những thay đổi về kinh tế và văn hóa ảnh hưởng đến thói quen người dân, làm tỉ lệ ĐTĐ tăng đáng kể.
 
- Trong năm 2012, tỷ lệ bệnh tiểu đường là 5,4% và tiền tiểu đường 13,7%, trong đó hơn 60% chưa được chẩn đoán. Năm 2005, tỉ lệ béo phì là 1,7%. Hiện tại, Việt Nam đang phải đối mặt với một gánh nặng dinh dưỡng kép: tình trạng béo phì và suy dinh dưỡng đáng báo động. Về mặt dinh dưỡng, bệnh ĐTĐ ở Việt Nam có liên quan với tăng tỷ lệ eo-hông mặc dù chỉ số khối cơ thể bình thường và kèm với chế độ ăn tăng protein, chất béo, và thức ăn nhanh, và giảm các loại trái cây tươi và rau quả. Một thách thức khác là tỷ lệ sử dụng thuốc lá là rất cao ở Việt Nam với 66% nam giới trưởng thành hút thuốc lá hiện nay. Về xã hội, các thách thức bao gồm thiếu nhân viên y tế chuyên khoa nội tiết, bảo hiểm chăm sóc sức khỏe chưa phổ cập, giáo dục bệnh nhân chưa chú trọng, và thiếu sự phối hợp giữa các cơ quan chính phủ và các chuyên gia. [3]
 
4. Vấn đề đưa ra
- Tỷ lệ người mắc bệnh đái tháo đường ở Việt Nam đang có chiều hướng gia tăng nhanh chóng ở khắp mọi miền cả nước và tạo ra gánh nặng kinh tế cho gia đình, xã hội trong quá trình điều trị căn bệnh này”- Thứ trưởng Bộ Y tế – Nguyễn Thị Xuyên phát biểu trong buổi hội thảo ngày 29/5/2015 vừa qua giữa Bộ Y tế Việt Nam và Đại Sứ Quán Đan Mạch về chủ đề “Bệnh đái tháo đường trong mối quan tâm về y tế toàn cầu” Theo số liệu mà Bộ Y tế thống kê trong 10 năm qua, số bệnh nhân mắc bệnh đái tháo đường ở nước ta tăng 211%, với con số này, Việt Nam nằm trong số các quốc gia có tốc độ tăng bệnh nhân đái tháo đường cao nhất thế giới. Thống kê từ các cơ sở y tế từ địa phương, toàn quốc hiện có khoảng 5 triệu bệnh nhân đái tháo đường, và nguy hiểm hơn, 60% các bệnh nhân mắc bệnh Đái tháo đường được chẩn đoán là có biến 7 chứng cực kỳ nguy hiểm, có thể dẫn tới mù lòa, tàn phế, thậm chí là tử vong.Bệnh đái tháo đường không được điều trị kịp thời và hoặc điều trị kém, quá muộn sẽ làm tăng nguy cơ gặp các biến chứng nghiêm trọng. Do các biến chứng này, bệnh nhân mắc bệnh đái tháo đường có nguy cơ tử vong cao hơn gần gấp 2 lần so với những người bình thường không mắc bệnh. [4]
- Vì vậy, việc chẩn đoán sớm, chính xác và không bỏ sót là vô cùng quan trọng đối với bệnh nhân ĐTĐ.

5. Các nguyên nhân dẫn đến chẩn đoán ĐTĐ trễ
 
- Nguyên nhân đầu tiên là triệu chứng ĐTĐ thường diễn tiến âm thầm. Bệnh có thể không có triệu chứng trong nhiều năm hay nhiều thập kỉ, nhưng đang gây tổn thương cho các mạch máu khắp cơ thể. Khi đã phát hiện bệnh nhân đã có các triệu chứng nghiêm trọng như cơn đau tim, đột quỵ, hoại tử chân, suy thận, hoặc mù. Tuy nhiên, ĐTĐ chỉ được xem là bệnh nền chứ không phải nguyên nhân chính. [5]
 
- Nguyên nhân thứ hai là việc tầm soát ĐTĐ chưa hiệu quả. Theo WHO, việc kiểm tra đường huyết máu là xét nghiệm thường quy cần thiết để tầm soát ĐTĐ với người trên 45 tuổi, đặc biệt người có nguy cơ cao trong nhóm béo phì (BMI>25kg/m2). Tuy nhiên, tại Việt Nam, các bệnh mãn tính không lây truyền như ĐTĐ, tăng huyết áp chỉ được quan tâm ở các đô thị lớn nên việc tầm soát ĐTĐ chưa được quan tâm rông rãi ở toàn quốc. [6]
 
- Nguyên nhân thứ ba là việc thay đổi lối sống, đặc biệt là dinh dưỡng chưa đi kèm với kiến thức chăm sóc sức khỏe ở người dân. Tại Việt Nam, chế độ ăn được phương Tây hóa với khẩu phần nhiều thức ăn nhanh, đường và chất béo bão hòa nhiều hơn. Tuy nhiên kiến thức về dinh dưỡng và y khoa chưa được chú trọng, đặc biệt là các bệnh có diễn tiến âm thầm như ĐTĐ làm tỷ lệ ĐTĐ chưa được chẩn đoán ở mức cao (60%) [6]
 
6. Các giải pháp

- Đái tháo đường là một bệnh diễn tiến âm thầm nhưng gây nhiều biến chứng nguy hiểm nên việc tầm soát phát hiện sớm bệnh nhân đái tháo đường, giảm số lượng bệnh nhân chưa được chẩn đoán hiện nay và dự phòng là một vấn đề cấp thiết.
 
- Để phòng chống bệnh đái tháo đường có hiệu quả nguời ta chia ra các mức phòng bệnh và tầm soát:
 
• Dự phòng cấp I: Phòng ngừa cho những nguời có yếu tố nguy cơ. Mục đích làm giảm tỉ lệ mới mắc bệnh đái tháo đường và làm chậm thời gian phát bệnh trên lâm sàng.
 
• Dự phòng cấp II: Phòng ngừa cho những nguời đã mắc bệnh đái tháo đường. Mục đích làm chậm xuất hiện các biến chứng, hoặc làm giảm mức độ nặng khi đã bắt đầu xuất hiện các biến chứng.
 
6.1. Dự phòng cấp I 
 
- Theo điều tra ở VN, tỉ lệ người dân mắc bệnh đái tháo đường trên cả nước cuối năm 2008 là 5,0%, tăng gấp đôi so với năm 2002 (2,7%). Một nghiên cứu gần đây cũng cho thấy số người mắc đái tháo đường tăng rất nhanh ở 4 thành phố lớn, từ 4% (2000) lên đến 7,2% (2008).
 
- Bệnh đái tháo đường phát triển ở những người có các yếu tố nguy cơ thúc đẩy sau:
 
• Lớn tuổi: phụ nữ mãn kinh (≥ 50 tuổi)
 
• Nam giới có hút thuốc lá và uống bia rượu
 
• Tiền sử gia đình có người bị đái tháo đường
 
• Sanh con trên 4kg
 
• Đái tháo đường trong thai kỳ
 
• Hội chứng chuyển hóa 
 
• Mập phì thừa cân (BMI ≥ 23, vòng eo ở nam ≥ 90cm, ở nữ ≥ 80cm)
 
• Tăng huyết áp (huyết áp ≥ 140/90 mmHg)
 
• Tăng Triglyceride
 
• Giảm HDL-c
 
- Các yếu tố nguy cơ trên sẽ gây ra tình trạng đề kháng insulin, dẫn đến rối loạn dung nạp glucose, còn gọi là tiền đái tháo đường (pre-diabetes), và nếu tiếp tục không kiểm soát tốt, sẽ phát triển bệnh đái tháo đường sớm. Để tầm soát các yếu tố nguy cơ trên, cho dù người thầy thuốc có kinh nghiệm bao nhiêu đi nữa cũng cần đến các phương tiện kỹ thuật cao ở các bệnh viện lớn để thăm dò và phát hiện các yếu tố này. Qua đó, giúp nguời thầy thuốc có các biện pháp can thiệp dùng thuốc hay không dùng thuốc để dự phòng hoặc ít nhất làm chậm quá trình tiến triển từ tiền đái tháo đường sang đái tháo đường.
 
6.2. Dự phòng cấp II 
 
- Đề phòng các biến chứng của đái tháo đường để làm chậm xuất hiện các biến chứng hoặc làm giảm mức độ nặng khi đã có các biến chứng. Người ta khuyến cáo đối với các bệnh nhân đái tháo đường lần đầu chẩn đoán phải được giới thiệu đến những cơ sở chuyên khoa (tại các trung tâm y tế, các bệnh viện lớn) để được khám, đánh giá chính xác mức độ, tình trạng bệnh, được hướng dẫn cách tự theo dõi theo tiêu chuẩn thống nhất.
 
- Kiểm soát đường huyết qua theo dõi định kỳ: khi đã mắc bệnh đái tháo đường, để ổn định đường huyết phải theo dõi: 
 
• Đường huyết lúc đói: mỗi tháng một lần, khi ổn định thì 3 tháng/lần.
 
• HbA1c: là chỉ số đánh giá đường huyết trung thành nhất, bắt buộc 3 tháng/lần.
 
• Các chỉ số sinh hóa khác (lipid máu, chức năng gan, chức năng thận, microalbumin niệu): 3-6 tháng/lần tùy bệnh lý của từng bệnh nhân.
 
- Tầm soát biến chứng của ĐTĐ: cần phải thăm khám định kỳ như sau
 
Khám bàn chân
 
- Tình trạng mạch máu bằng siêu âm Doppler màu, TK vận động, TK cảm giác.
 
- Lần khám đầu tiên, sau đó 3-6 tháng khám một lần.
 
Khám tim mạch
 
- Điện tâm đồ, siêu âm tim: 3-6 tháng/lần tùy từng bệnh nhân.
 
- Theo dõi huyết áp thường xuyên, hướng dẫn bệnh nhân tự theo dõi huyết áp.
 
- Kiểm tra, đánh giá chế độ ăn uống, chế độ luyện tập, đo chỉ số cơ thể 6tháng/lần.

Khám đáy mắt
 
- Khám lâm sàng: 6 tháng/lần với bệnh nhân đái tháo đường < 5 năm và 3 tháng/lần với bệnh nhân đái tháo đường > 5 năm
 
- Chụp đáy mắt: 6 tháng -1 năm/lần tùy theo mức độ thương tổn lâm sàng .

KẾT LUẬN
 
Để phát hiện sớm bệnh đái tháo đường và phòng ngừa các biến chứng :
 
- Đối với thầy thuốc: phải giới thiệu bệnh nhân đến các trung tâm khám chuyên khoa để được khám và đánh giá chính xác mức độ tình trạng bệnh và hướng dẫn cách tự theo dõi và điều trị để ổn định đường huyết và phòng ngừa các biến chứng.
 
- Đối với người bệnh: phải tích cực điều trị theo hướng dẫn của thầy thuốc và theo đúng lịch hẹn để kiểm tra định kỳ hầu phát hiện sớm và đề phòng các biến chứng của bệnh đái tháo đường.
 
1. T.R.Harrisons, Harrisons’s Principles of Internal Medicine, Part 16, Section 3, p.2999-3001

2. American Diabetes Association: Implications of the United Kingdom Prospective Diabetes Study. Diabetes Care 23 (Suppl. 1):S27-S31, 2000

3. NT Khue, Annals of Global Health, Volume 81, Issue 6, page 870-873

4. Phú Đình (2014). Bệnh đái tháo đường trong mối quan tâm về y tế toàn cầu, http://www.kinhtedothi.vn/xa-hoi/y-te/2014/05/81024CC6/benh-dai-thao-duongtrong-moi-quan-tam-ve-y-te-toan-cau/, xem 20/12/2015.

5. Timothy Lyons, Type 2 Diabetes May Be Diagnosed Late, Medicalnewstoday.com, article 18/6/2012.

6. Duc Son Nguyen Trung Le, Kaoru Kusama, Shigeru Yamamoto, Journal of Atherosclerosis and Thrombosis Vol. 13 (2006) No. 1 P 16-20
 
 
 
 

Đái tháo đường

Cập nhật lúc : 15/06/2016 09:51

ĐÁI THÁO ĐƯỜNG

1. ĐẠI CƯƠNG 

1.1. Định nghĩa
 
Đái tháo đường (ĐTĐ) là nhóm của các bệnh chuyển hóa, có đặc điểm tăng đường huyết do thiếu hụt về tiết insulin, về tác động của insulin hoặc cả hai. Tăng đường huyết kéo dài kéo theo những tổn thương, rối loạn chức năng các cơ quan trong cơ thể, đặc biệt là mắt, thận, thần kinh, tim và mạch máu.
 
1.2. Dịch tễ Đái tháo đường 
 
chiếm khoảng 60-70% các bệnh nội tiết. Tỷ lệ mắc bệnh ở nữ nhiều hơn nam. Theo số liệu của viện nghiên cứu ĐTĐ quốc tế, năm 1994 số bệnh nhân bị bệnh ĐTĐ typ 2 trên thế giới vào khoảng 98,9 triệu người, dự báo sẽ tăng lên 215 triệu người vào năm 2010. Tỷ lệ mắc bệnh thay đổi theo từng nước có nền công nghiệp phát triển hay đang phát triển, thay đối theo từng dân tộc, từng vùng địa lý khác nhau. Tuổi càng lớn, tỷ lệ mắc bệnh ĐTĐ càng cao, 65 tuổi trở lên, tỷ lệ mắc bệnh tới 16% tỷ lệ mắc bệnh ĐTĐ cao ở những người bệnh bị béo.
 
1.3. Phân loại
 
Cơ chế bệnh sinh Theo ADA thì bệnh đái tháo đường được chia thành 4 nhóm chủ yếu sau: – Đái tháo đường typ 1: do tổn thương hoặc suy giảm chức năng tế bào β nguyên phát, đưa đến thiếu insulin hoàn toàn. + Xảy ra ở người trẻ, phần lớn từ 10 – 20 tuổi. + Tỷ lệ mới mắc cao ở các gia đình có người bị đái đường typ 1, có xu hướng hôn mê toan huyết. + Thường ở người có HLA – DR3 và DR4 + Có kháng thể kháng tiểu đảo Langerhans. + Sự bài tiết insulin có thể còn ở giai đoạn đầu chẩn đoán, sau đó dẫn đến cạn kiệt ít năm sau. – Đái tháo đường typ 2: + Thường xảy ra ở người trên 35 tuổi. + Đường huyết thường tăng cao nhiều năm trước khi được chẩn đoán. + Thường ở người có triệu chứng nhẹ, phát hiện tình cờ. + Đa số bệnh nhân thuộc loại béo (90% các bệnh nhân ở các nước đã phát triển), nhưng ở Việt Nam tỷ lệ ở người béo rất thấp. + Sự tiết insulin thấp tương đối, có sự kháng tác dụng insulin ở tổ chức ngoại biên và gan. + Các yếu tố di truyền ở loại này rất quan trọng, thường thấy ở trẻ sinh đôi đồng hợp tử (100% ở týp 2, trong khi chỉ có 50% týp l). Đái đường týp 2 có thể chia ra 3 týp: – Đái tháo đường thai nghén + Đái đường thai nghén thường gặp ở phụ nữ có thai có đường huyết tăng hoặc giảm dung nạp glucose, gặp khi có thai lần đầu và thường mất đi sau đẻ 
 
2. NGUYÊN NHÂN 
 
* Nguyên nhân do tụy: – Viêm tụy. – Ung thư tụy. – Sỏi tụy – Bệnh thiết huyết tố 
 
* Nguyên nhân ngoài tụy: – Cường thuỳ trước tuyến yên. – Cường vỏ thượng thận. – U tuỷ thượng thận. – Cường giáp trạng.
 
* Một số nguyên nhân khác; – Do di truyền. – Do tự miễn. – Do nhiễm khuẩn, virus. – Do thuốc: Corticoid, Thiazid. – Do rượu: ức chế AMPC dẫn tới giảm sản xuất insulin. – Tổn thương não. Tác dụng của phấn hoa chữa những bệnh gì? Cà gai leo hoạt chất làm âm tính virus viêm gan B Giảm căng thẳng nhanh chóng với nấm lim xanh Tổng hợp bài thuốc chống xuất tinh sớm nên sử dụng hàng ngày 5 thực phẩm chống xuất tinh sớm, tăng chuyện ấy 
 
3. TRIỆU CHỨNG

3.1. Lâm sàng 

* Khởi phát:
 
– Thường không có biểu hiện gì đặc biệt, chỉ phát hiện được khi làm xét nghiệm máu và nước tiểu. 
 
– Bệnh có thể xuất hiện sau khi bệnh nhân bị cảm, cúm. 
 
* Toàn phát: 
 
– Đái nhiều: bệnh nhân đái 6 – 7 lít / 24h. 
 
– Uống nhiều: đái nhiều nên bệnh nhân mất nước, khát và bệnh nhân sẽ uống nhiều.
 
– Ăn nhiều, nhanh đói.
 
– Gầy nhiều: + Do giảm đồng hóa, tăng dị hóa protid, lipid làm teo cơ và tổ chức mỡ dưới da. + Do mất nước. – Nước tiểu có ruồi đậu, kiến bâu. 
 
– Bệnh nhân mệt mỏi, khô mồm, khô da. 
 
3.2. Cận lâm sàng
 
– Glucose máu lúc đói tăng cao.
 
– Glucose niệu (+). Có một cách để thử nước tiểu là dùng một loại giấy thử đặc biệt, nếu các mảnh giấy này đổi màu khi nhúng vào trong nước tiểu là nước tiểu có đường. 
 
– Nghiệm pháp tăng đường máu (+). + Lấy máu định lượng glucose lúc đói. + Cho bệnh nhân uống 75g glucose pha trong 250ml nước sôi để nguội, uống trong thời gian 5 phút. + 2 giờ sau khi uống, lấy máu định lượng glucose. Chẩn đoán rối loạn dung nạp glucose khi đường huyết sau 2 giờ là 7,8- 11 mmol/l. Nếu kết quả > 11, 1 mmol/l thì chẩn đoán xác định là đái tháo đường. – Nghiệm pháp Conn (+) (nghiệm pháp với Cortison), nhưng hiện nay ít làm. 
 
– Thể xeton niệu (+). – HbA1c tăng cao so với bình thường. Xét nghiệm này chỉ có giá trị đánh giá kết quả điều trị, nó phản ánh mức độ kiểm soát đường huyết trong 4-8 tuần đã qua, mà ít có giá trị chẩn đoán xác định đái tháo đường. – Định lượng insulin huyết thanh. 108 – Định lượng C-peptid. – Định lượng các tự kháng thể: kháng thể kháng insulin, kháng tế bào β tụy: GAD (acid glutamic decarboxylase). – Rối loạn chuyển hóa lipid kèm theo. 
 
4. CHẨN ĐOÁN

4.1. Chẩn đoán bệnh dựa vào: 
(Có thể chẩn đoán được ở tuyến cơ sở) * Các triệu chứng kinh điển: ăn nhiều, uống nhiều, đái nhiều, gầy nhiều. * Các biến chứng thường gặp: thần kinh, mắt, bệnh lý mạch máu, nhiễm trùng. * Một số yếu tố nguy cơ gợi ý: – Béo. – Tiền sử gia đình có người bị bệnh ĐTĐ. – Phụ nữ có ĐTĐ lúc thai nghén. – Tiền sử đẻ con nặng trên 4 kg. * Xét nghiệm: – Đường huyết lúc đói hay xét nghiệm đường huyết bất kỳ trong thời gian nào. – Nghiệm pháp tăng đường huyết. – Định lượng HbA1c. – Đường niệu. 4.2. Tiêu chuẩn chẩn đoán (Được WHO công nhận năm 1998): Dựa vào một trong ba tiêu chuẩn – Một mẫu đường huyết tương bất kỳ ≥ 200 mg/ dl (11,l mmol/l), kết hợp với các triệu chứng tăng đường huyết. – Đường huyết tương lúc đói ≥ 126 mg/ dl (7 mmol / l). – Đường huyết tương 2 giờ sau uống 75 g glucose ≥ 200mg/dl (11,l mmol/l). Chẩn đoán chắc chắn khi kết quả được lặp lại 12 lần trong những ngày sau đó. 
 
4.3. Chẩn đoán phân biệt
 
– Đái nhạt: uống nhiều, đái nhiều, xét nghiệm đường máu bình thường, đường niệu (-), tỷ trọng nước tiểu thấp. 
 
– Đái đường phối hợp với đái nhạt: 
 
– Đường huyết cao không tương xứng với đường niệu. 
 
– Sau điều trị, đường huyết về bình thường mà bệnh nhân vẫn đái nhiều. 
 
– Đái đường do thận: do ngưỡng đường thận giảm. 
 
4.4. Chẩn đoán giai đoạn (4 giai đoạn) 
 
* Giai đoạn 1 (tiền đái đường, đái đường ẩn).
 
– Thường gặp ở các đối tượng: 
 
+ Con của hai người đái tháo đường. 
 
+ Sinh đôi cùng trứng, một đã bị đái tháo đường.
 
+ Những người có kháng nguyên HLA – DR3 hoặc DR4
 
– Xét nghiệm sinh hóa bình thường, sinh thiết thận thấy màng đáy cầu thận dày. * Giai đoạn 2 (Đái đường tiềm tàng): Nghiệm pháp Conn (+), tổn thương vi mạch nặng hơn. * Giai đoạn 3 (Đái đường sinh hóa): Các nghiệm pháp sinh hóa (+), tổn thương vi mạch nặng. * Giai đoạn 4 (Đái đường lâm sàng). Có đầy đủ triệu chứng lâm sàng và sinh hóa, biến chứng nhiều. 
 
4.5.Chẩn đoán nguyên nhân 
 
* Nguyên nhân ngoài tụy Dựa vào lâm sàng và cận lâm sàng: thấy có cường các tuyến khác. * Do tụy: – Cần chụp Xquang, siêu âm tụy, CT- Scanner để phát hiện u, sỏi tụy. – Xác định các tự kháng thể, kháng tế bào β tụy.
 
5. BIẾN CHỨNG 

5.1. Biến chứng ở các cơ quan
 
* Tim mạch: – Cơn đau thắt ngực. – Nhồi máu cơ tim. – Viêm tắc động mạch chi dưới. * Ngoài da: – Ngứa không tìm thấy nguyên nhân. – Mụn nhọt lâu khỏi. 110 – Loét bàn chân. * Mắt: – Đục thuỷ tinh thể. – Viêm mống mắt. – Thoái hóa võng mạc. * Hoại thư do đái tháo đường: – Là biến chứng muộn, tiến triển từ từ. * Biến chứng thần kinh: Viêm đa dây thần kinh (tọa, trụ, rối loạn cảm giác sâu). * Biến chứng thận: Do xơ hóa tiểu cầu thận, xuất hiện Microalbumin niệu, gây hội chứng Kimmelstiel – Wilson. * Răng lợi: rụng răng, viêm mủ lợi kéo dài. * Phổi: dễ gây nhiễm khuẩn ở phổi: – Áp xe phổi. – Lao phổi. 
 
5.2. Biến chứng hôn mê do đái tháo đường 
 
* Hôn mê toan máu do đái tháo đường: – Thường gặp ở bệnh nhân ĐTĐ typ 1. – Đường máu tăng rất cao. – Đường niệu tăng. – Xeton niệu (+). – Dự trữ kiềm giảm nhiều. * Hôn mê do tăng áp lực thẩm thấu: – Thường gặp ở bệnh nhân ĐTĐ typ 2. – Đường huyết và đường niệu tăng rất cao. – Không có thể xeton niệu. – Áp lực thẩm thấu máu tăng rất cao. 111 * Hôn mê do tăng a. lactic: – Tăng a. lactic máu. – pH máu giảm. – Xeton niệu 
 
6. ĐIỀU TRỊ
 
Nếu thấy rõ nguyên nhân thì phải điều trị nguyên nhân, nếu không phải xác định và điều trị theo typ 1 hoặc typ 2. 
 
6.1. Điều trị đái tháo đường Typ 1 
 
* Chế độ ăn: Chế độ ăn là vấn đề quan trọng nhất trong điều trị đái tháo đường với mục đích nhằm bảo đảm cung cấp đủ dinh dưỡng, cân bằng đầy đủ cả về số lượng và chất lượng để có thể điều chỉnh tốt đường huyết, duy trì cân nặng theo mong muốn, đảm bảo cho người bệnh có đủ sức khỏe để hoạt động và công tác phù hợp với từng cá nhân. Trong đái tháo đường không có một công thức tính chế độ ăn chung cho tất cả các bệnh nhân, vì còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: người béo hay gầy, lao động thể lực hoặc không lao động, có biến chứng hay không và còn phụ thuộc vào điều kiện kinh tế của từng bệnh nhân. Chế độ ăn của người bệnh phải được chọn sao cho nó cung cấp cho cơ thể người bệnh một lượng đường tương đối ổn định và quan trọng nhất là phải tính điều độ và hợp lý về giờ giấc, tức là chia số thực phẩm được sử dụng trong ngày ra các bữa ăn chính và phụ hợp lý. Nếu bệnh nhân có tiêm insulin, phải tính thời điểm lượng đường huyết tăng cao sau bữa ăn phù hợp với thời điểm insulin có tác dụng mạnh nhất. * Insulin: dùng là bắt buộc và dùng suốt đời, vì insulin cần cho tất cả bệnh nhân đái tháo đường type1, mục đích điều trị insulin là thay thế một cách sinh lý lượng insulin bình thường do tụy tạo ra. – Các loại insulin: hiện nay có các loại insulin thường, insulin chậm và insulin nửa chậm. – Cách dùng: insulin có thể được sử dụng một cách linh động. + Trong cấp cứu dùng loại nhanh, còn lại thì dùng loại chậm hoặc nửa chậm. + Loại insulin nhanh có thể tiêm dưới da, tiêm bắp, truyền tĩnh mạch. – Các loại insulin khác chỉ tiêm dưới da. 
 
6.2. Điều trị đái tháo đường typ 2 
 
* Chế độ ăn: – Áp dụng như đái tháo đường typ 1. – Chế độ ăn nên được áp dụng đầu tiên cho mọi bệnh nhân. – Nếu không đỡ, phải dùng thêm thuốc để điều chỉnh đường huyết. – Hầu hết bệnh nhân đái tháo đường typ 2 cần điều trị bằng thuốc hạ đường huyết uống, những thuốc này được chia thành các nhóm chính: * Thuốc: – Sulfamid hạ đường huyết (Sulfonylurea). + Các loại: • Tolbutamid 0,5g (thế hệ 1) x 4 viên/24h. • Glthenclamid (Daonil, Maninil): 5mg (thế hệ 2) x 2 – 4 viên/24h. • Gliclazid (Diamicron, Predian): 80mg (thế hệ 2) x 1 – 4 viên/24h. + Cơ chế tác dụng: • Kích thích tế bào β tụy sản xuất insulin. • Tăng hiệu lực tác dụng của insulin nội và ngoại sinh: – Ức chế enzym insulinase của gan. – Ức chế kết hợp insulin với kháng thể và với protein huyết tương. + Biến insulin không hoạt động thành insulin hoạt động. + Làm tăng số lượng Receptor tiếp nhận insulin ở màng tổ chức cơ và gan của sinh vật. – Biguanid (thuốc chống cao đường huyết): + Metformine, glucophage 500mg x 2 – 3 viên/24h. Uống trong hoặc sau bữa ăn. Tác dụng phụ trên đường tiêu hóa thường gặp ở 20% bệnh nhân (nghiên cứu UKPDS 1998) + Tác dụng: • Tăng tính thấm màng tế bào đối với glucose,tăng sử dụng glucose ở tổ chức ngoại vi, chủ yếu là ở cơ. • Có thể làm tăng tỷ lệ insulin tự do/ insulin kết hợp với protein huyết tương. Giảm tỷ lệ các tiền chất insulin. • Ức chế sự tân tạo glucose ở gan mà vẫn cải thiện độ nhậy cảm của tế bào cơ đối với insulin.. • Làm chậm hấp thu glucose ở ruột non. • Không có tác dụng kích thích tế bào β tiết insulin nên không gây tăng insulin máu. • Có tác dụng làm giảm hiện tượng kháng insulin. – Loại khác: + Acarbose: (glucobay) (là một Tetrasaccharid giả): 50mg, 100 mg x 1 – 2 viên x 2 – 3 lần/ ngày, uống ngay khi bắt đầu ăn.Rối loạn tiêu hóa là một tác dụng phụ hay gặp trong khi bệnh nhân được điều trị bằng glucobay. + Mediator (Bennuorex): 150 mg Có tác dụng lên sự đề kháng insulin, điều chỉnh rối loạn chuyển hóa lipid, giảm triglycerid, làm tăng HDL- c. – Tuần l: 1 viên / 24 giờ, bữa ăn tối. – Tuần 2: 2 viên /24 giờ, lúc ăn trưa và tối. – Tuần 3: 3 viên /24 giờ, vào các bữa ăn sáng, trưa, tối. + Amaryl (Glimepiride) 1 mg, 2 mg, 3 mg. Uống nguyên viên 1 lần / ngày. + Vitamin E và C. * Chú ý: – Nếu các biện pháp điều trị như tiết chế, thay đổi lối sống, thuốc hạ đường huyết uống (có thể phối hợp) mà không kiểm soát được đường huyết ở bệnh nhân đái tháo đường typ 2, nên đặt vấn đề điều trị bằng insulin, thường tiếp tục phối hợp với thuốc hạ đường huyết uống. – Điều trị bệnh kèm theo và biến chứng (nếu có). Đặc biệt chú ý biến chứng tim mạch, hôn mê và bệnh lý bàn chân ở bệnh nhân đái tháo đường. – Trách nhiệm quản lý, theo dõi người bệnh, hướng dẫn bệnh nhân thực hiện chế độ ăn, chế độ luyện tập, chế độ thuốc men là rất quan trọng đối với các thầy thuốc ở cộng đồng. – Khi phát hiện các biến chứng ở bệnh nhân đái tháo đường, cần xử trí bước đầu sau đó tìm cách chuyển bệnh nhân lên tuyến trên để xử trí. 
 
7. PHÒNG BỆNH
 
Tuyên truyền, giáo dục sức khỏe cho bệnh nhân, người nhà bệnh nhân và cho cộng đồng về việc thực hiện chế độ ăn kiêng, luyện tập, hạn chế yếu tố nguy cơ, đặc biệt là việc quản lý bệnh nhân ngoại trú nhằm hạn chế biến chứng do bệnh đái tháo đường gây ra. Cho đến nay có 3 cấp phòng bệnh là: – Phòng bệnh cấp l: ngăn ngừa hoặc làm chậm sự phát bệnh ở cộng đồng và cá nhân người có yếu tố nguy cơ mắc bệnh đái tháo đường. – Phòng bệnh cấp 2: ngăn ngừa hoặc làm chậm sự tiến triển các biến chứng của bệnh.

Đái tháo đường

Cập nhật lúc : 15/06/2016 10:00

TRUNG TÂM Y TẾ SÓC SƠN - KHOA YTCC
 
BÀI DỰ THI
“GIẢI PHÁP SÁNG TẠO Y TẾ CỘNG ĐỒNG”
 
Đái tháo đường (ĐTĐ) là một bệnh lý nội tiết chuyển hóa rất phổ biến trên thế giới và có xu hướng ngày càng tăng nhanh. Theo WHO, năm 1985 có khoảng 30 triệu người mắc trên toàn cầu, năm 2004 có khoảng 98,9 triệu người mắc, tới nay khoảng 180 triệu người và con số có thể tăng gấp đôi tới 366 triệu người vào những năm 2030. Đây là một trong ba căn bệnh có tốc độ phát triển nhanh nhất và là một trong những nguyên nhân gây tử vong hàng đầu ở các nước đang phát triển.
 
Tình hình bệnh ĐTĐ tại Việt Nam cũng không nằm ngoài quy luật chung của thế giới. Ở Việt Nam, khoảng 150 người tử vong do các nguyên nhân liên quan đến bệnh đái tháo đường mỗi ngày, tương đương với 54.943 trường hợp tử vong của người trưởng thành mỗi năm.. Theo số liệu điều tra toàn quốc năm 2002 lứa tuổi 30 – 64 tuổi tỷ lệ mắc toàn quốc là 2,7 % trong đó 64,6 % trường hợp ĐTĐ được phát hiện trước đó chưa biết.
 
Việt Nam tuy không xếp vào 10 nước có tỷ lệ mắc đái tháo đường cao nhưng lại là quốc gia có tốc độ phát triển nhanh. Theo một nghiên cứu của bệnh viện Nội tiết Trung ương vào năm 2008 cho thấy: tỷ lệ mắc đái tháo đường ở Việt Nam tăng nhanh từ 2,7% (năm 2001) đến 5%( năm 2008), trong đó có tới 65% người bệnh không biết mình mắc bệnh.
 
Tại Sóc Sơn, năm 2014, được sự quan tâm của Trung tâm Y tế dự phòng Hà Nội, Trung tâm Y tế huyện Sóc Sơn đã tổ chức khám sàng lọc cho 1500 người dân có yếu tố nguy cơ mắc bệnh đái tháo đường tại xã Phù Linh, Xuân Giang, Đông Xuân phát hiện và lập danh sách quản lý 47 trường hợp mắc đái tháo đường và 286 trường hợp tiền đái tháo đường, tức là có khoảng 1/5 số người được khám thuộc diện đái tháo đường và tiền đái tháo đường.
 
Do ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khoẻ, phát triển kinh tế xã hội và xu hướng ngày càng tăng nhanh của ĐTĐ, cũng như khả năng phòng chống bệnh hữu hiệu, chúng ta cần phải đề ra những chiến lược cụ thể, thích hợp để phòng, chống bệnh ĐTĐ.
 
Hiện nay, bệnh được chẩn đoán bằng cách xét nghiệm lượng đường cao trong máu.Tuy nhiên các nhà nghiên cứu cho rằng, trong thời gian lượng đường máu tăng, bệnh đái tháo đường đã có thể gây ra một số tác hại đối với cơ thể.
 
Năm 2014, Các nhà khoa học Anh cho biết đang phát triển phương pháp chẩn đoán bệnh đái tháo đường type 2 dựa trên việc xét nghiệm các hợp chất trong máu. Phương pháp này có thể giúp phát hiện bệnh đái tháo đường sớm hơn nhiều so với các phương pháp chẩn đoán hiện thời.Nhóm nghiên cứu đã tiến hành xét nghiệm phân tử chất béo và một số hợp chất khác có trong máu của 100 phụ nữ có nguy cơ mắc bệnh đái tháo đường ở các mức độ thấp, trung bình và cao.. Kết quả là, lượng đường máu ở các nhóm phụ nữ đều ở mức bình thường nhưng có sự khác biệt về lượng các chất trong chất béo như vitamin D và một số protein.Các nhà nghiên cứu đang tiến hành cải tiến phương pháp thử nghiệm này và cho biết hi vọng nó có thể được sử dụng rộng rãi trong các năm tới để cảnh báo về bệnh đái tháo đường type 2 sớm hơn nhiều tháng, thậm chí là nhiều năm.
 
Trong cơ thể, đường máu được kiểm soát bởi tế bào beta của tụy. Nếu lượng đường máu cao, tế bào này sẽ giải phóng ra insulin là một loại hormon giúp làm tăng tiêu thụ glucose, do đó làm hạ mức đường máu. Tham gia quá trình này có vai trò chính của enzym GnT-4a, nó cho phép tế bào beta hấp thụ glucose, qua đó nó có thể nhận biết được lượng đường trong máu.Những thử nghiệm trên chuột cho thấy với một chế độ ăn giàu chất béo làm tăng axit béo tự do trong máu. Những axit béo tự do cản trở 2 protein là – FOXA2 và HNF1A – là 2 protein tham gia quá trình sản xuất enzym GnT-4a. Kết quả là chúng làm tế bào không nhận ra được lượng đường máu trong cơ thể, do đó biểu hiện những triệu chứng của đái tháo đường type II. Cơ chế này cũng tương tự trên tế bào ở tuyến tụy của người. Với phát hiện này, “Chúng ta có thể hy vọng vào việc thực hiện liệu pháp gen trên tế bào beta hoặc dùng các loại thuốc có tác dụng giữ cho tế bào beta tuyến tụy đảm bảo được chức năng bình thường.” Đó là một số ý tưởng của các nhà nghiên cứu nước ngoài góp phần cho công tác phòng và phát hiện sớm đái tháo đường. Hi vọng các nghiên cứu đó sớm lại lại kết quả thuận lợi giúp chúng ta kiểm soát được căn bệnh đái tháo đường đáng sợ này.
 
Như chúng ta đã biết, ĐTĐ - “Là một rối loạn mạn tính, có những thuộc tính sau: tăng glucose máu, kết hợp với những bất thường về chuyển hoá carbohydrat, lipid và protein, bệnh luôn gắn liền với xu hướng phát triển các bệnh lý về thận, đáy mắt, thần kinh và các bệnh tim mạch do hậu quả của xơ vữa động mạch”. Bệnh ĐTĐ, trong đó chủ yếu là ĐTĐ type 2 chiếm 80 - 90%. Đặc điểm quan trọng nhất trong sinh lý bệnh của đái tháo đường typ 2 là có sựtương tác giữa yếu tố gen và yếu tố môi trường, trong đó:
 
-Yếu tố di truyền.
 
- Yếu tố môi trường: là nhóm các yếu tố có thể can thiệp để làm giảm tỷ lệ mắc bệnh. Các yếu tố đó là:
+ Sự thay đổi lối sống: giảm các hoạt động thể lực; thay đổi chế độ ăn uống theo hướng tăng tinh bột, giảm chất xơ gây dư thừa năng lượng.
 
+ Chất lượng thực phẩm: ăn nhiều các loại carbohydrat hấp thu nhanh (đường tinh chất, bánh ngọt, kẹo…), chất béo bão hòa, chất béo trans…
 
+ Các stress về tâm lý.
 
- Tuổi thọ ngày càng tăng, nguy cơ mắc bệnh càng cao: Đây là yếu tố không thể can thiệp được.
 
Do đó,giải pháp mà chúng tôi đề xuất tác dộng vào chính yếu tố lối sống và chất lượng thực phẩm của người dân.
 
Theo GS Yamamoto, nghiên cứu về chế độ ăn gạo của người châu Á với bệnh ĐTĐ cho thấy, lượng tinh bột từ gạo chiếm khẩu phần khá lớn trong bữa ăn người châu Á và chế độ ăn tác động nhiều đến đường huyết.Theo nghiên cứu này, việc sử dụng gạo xay xát trắng thay cho gạo giã (vẫn còn vỏ cám) làm tăng nguy cơ bệnh ĐTĐ. Theo GSYamamoto, lượng đường trong máu sẽ tăng cao sau khi ăn. Nhưng với cùng một lượng ăn vào thì gạo lứt (loại gạo xát còn vỏ cám) có chỉ số đường huyết thấp hơn gạo trắng.
 
Một cuộc nghiên cứu khác được công bố bởi GS Shigeru Yamamoto, Giám đốc Trung tâm nghiên cứu dinh dưỡng và văn hóa ẩm thực châu Á, Đại học Jumoji, Tokyo,chế độ ăn giàu chất đường bột của người Việt Nam chủ yếu là gạo trắng là nguyên nhân chính dẫn đến người Việt Nam bị đái tháo đường ở mức cao.
 
Theo ĐH Havard (Mỹ), người ăn gạo trắng thường xuyên có nguy cơ mắc ĐTĐ tuýp 2 cao hơn các thực phẩm tinh bột khác. So sánh với việc ăn gạo lứt rang, các chuyên gia đã thử nghiệm ở 197.000 người trưởng thành ở độ tuổi trên 22 và chỉ ra: Những ai ăn 1 hoặc 2 bữa gạo lứt rang/tuần sẽ giảm được 11% nguy cơ mắc ĐTĐ tuýp 2.
 
Và theo Nghiên cứu của Tzu Fan Hsu và cộng sự (đăng trên tạp chí J Nutr Sci Vitaminol) trên bệnh nhân đái tháo đường người Đài Loan cho thấy nhóm bệnh nhân ăn gạo lật nảy mầm trong 6 tuần đã giảm Cholesterol toàn phần từ 241.8mg/dL xuống 216.2 mg/dL, Triglycerid đã giảm từ 121.6 mg/dL xuống 91.2 mg/dL, HDL đã tăng từ 52.0 mg/ dL lên 63.2 mg/dL. Trong khi đó sau chính nhóm bệnh nhân này sau 1 tuần nghỉ lại chuyển tiếp sang ăn gạo trắng trong 6 tuần tiếp theo thì kết quả cho thấy Cholesterol toàn phần đã tăng từ 222.0 mg/dL lên 231.4 mg/dL, Triglycerid đã tăng từ 95.8 mg/dL xuống 97.4 mg/dL, HDL đã giảm từ 59.6 mg/ dL lên 57.4 mg/dL.
 
Tuy nhiên,theo các nhà nghiên cứu, không thể phủ định được những lợi ích cho sức khỏe mà gạo trắng mang lại, cơ thể không thể thiếu hay thay thế vai trò của chất đường bột mà các thực phẩm cung cấp trong đó có gạo trắng.
 
Từ đó, giải pháp mà chúng tôi đề xuất đó là “ Thực hiện một chế độ ăn uống hợp lý, giảm dần lượng gạo trắng sử dụng trong bữa ăn. Sử dụng kết hợp gạo lức, gạo lật nảy mầm để thay thế một phần lượng gạo trắng”.
 
Tuy nhiên,theo chúng tôi đó chỉ là một giải pháp nhỏ trong công tác giảm thiểu số người mắc bệnh đái tháo đường.
 
Việt Nam vẫn là một quốc gia thuộc nhóm các nước đang phát triển,nền kinh tế và khoa học kĩ thuật còn nhiều khó khăn. Vì thế,điều kiện để phát triển nghiên cứu cũng như phát triển các tiến bộ khoa học như các ý tưởng của các bạn nước ngoài như trên chúng tôi đã nêu là một việc cực kỳ khó khăn.
 
Kinh tế đang phát triển,dân số với khoảng 70% là nông dân. Với các khu vực thành thị đã còn nhiều tồn tại,các khu vực nông thôn thì càng khó khăn hơn gấp bội.
 
Năm 2010, ADA đã khuyến cáo các đối tượng nên tầm soát bệnh ĐTĐ bao gồm: đối tượng có HbA1c > 5,7%, mọi đối tượng ≥ 45 tuổi đặc biệt BMI ≥ 25kg/m2, lập lại mỗi 3 năm nếu tầm soát âm tính.
 
Đó là giải pháp rất hay và hợp với kinh tế của các nước đang phát triển tuy nhiên nhiều vùng miền trên nước ta việc được tiếp xúc với các dịch vụ y tế còn cực kì hạn chế vì nhiều lý do như địa lý, văn hóa, kinh tế vùng địa phương.
 
Dịch vụ y tế là một việc,nhiều nơi, nhiều khu vực thậm chí còn xuất hiện việc có dịch vụ y tế nhưng không có người tham gia vì vấn đề kinh tế của khu vực, địa phương đó.
 
Khó khăn là như vậy nhưng tất nhiên chúng ta không thể ngồi yên rùi nhìn nó.
 
Giải pháp mà chúng tôi cũng như Trung tâm Y tế Sóc Sơn đang từng bước xây dựng, thực hiện và triển khai đó là: “Xây dựng và phát triển mô hình bác sỹ gia đình”.
 
Bác sỹ gia đình hoạt động trên nguyên tắc liên tục, toàn diện, phối hợp, theo hướng dự phòng, dựa vào cộng đồng và gia đình.Cung ứng dịch vụ chăm sóc toàn diện, lồng ghép, liên tục và toàn diện cho cá nhân, gia đình và cộng đồng, duy trì mối quan hệ tin cậy và lâu dài với người bệnh; tham vấn, vận động lối sống lành mạnh, loại bỏ các hành vi nguy cơ đối với bệnh tật nhằm nâng cao năng lực của cá nhân, nhóm và cộng đồng trong việc tự bảo vệ và nâng cao sức khoẻ.
 
Hiện nay, Trung tâm Y tế Sóc Sơn đang xây dựng mô hình phòng khám bác sỹ gia đình theo phương án lồng ghép với Trạm y tế xã, thị trấn, 4 phòng khám đa khoa. Với việc triển khai áp dụng công nghệ thông tin trong quản lý hồ sơ bệnh án người bệnh trong từng gia đình và áp dụng chi phí khám chữa bệnh BHYT với mô hình khám chữa bệnh bác sỹ gia đình.
 
Với việc toàn dân hiện nay đa phần đều có bảo hiểm Y tế,việcngười dân tham gia vào mô hình này rất dễ dàng do chi phí dịch vụ thấp. Việc quản lý và phát hiện sớm người bệnh đái tháo đường hay tiền đái tháo đường cũng gặp nhiều thuận lợi do việc lập hồ sơ tầm soát các đối tượng nguy cơ, khám và quản lý được thực hiện bởi tuyến y tế cơ sở - tuyến đầu trong nhiệm vụ chăm sóc và bảo vệ sức khỏe của người dân.
 
Chúng tôi tin rằng, bên cạnh việc phát triển công tác y tế dự phòng, tăng cường truyền thông, tuyên truyền nâng cao kiến thức bệnh đái tháo đường, thay đổi hành vi lối sống, kết với với công tác phát triển mô hình bác sỹ gia đình để lập hồ sơ tầm soát các đối tượng có nguy cơ, công tác phát hiện sớm bệnh nhân đái tháo đường, giảm số bệnh nhân chưa được chẩn đoán sẽ có được nhiều kết quả tốt. 

Đái tháo đường

Cập nhật lúc : 15/06/2016 10:10

ĐỀ TÀI : ĐÁI THÁO ĐƯỜNG
Họ và tên thí sinh: Từ Hòa Lượng
Chuyên môn: Cử nhân Xét Nghiệm Y học
Nơi công tác: Khoa Xét nghiệm- Bệnh viên Đa khoa Tâm Phúc
82A Ngô Sĩ Liên, Phường Đức Thắng, Tp.Phan Thiết.
Bài dự thi

Đái tháo đường

Cập nhật lúc : 15/06/2016 10:41

Bài dự thi
>>> Xem tại đây

10 hoạt động nổi bật trong tháng


Quảng cáo