ĐÁI THÁO ĐƯỜNG

Cập nhật lúc : 06/06/2016 10:08

ĐỀ TÀI: ĐÁI THÁO ĐƯỜNG
 
Người trình bày: Nguyễn Thị Bích Hải
Địa chỉ : 51A Lê Thị Xuyến – phường Chính Gián – quận Thanh Khê – TP Đà Nẵng
 
I. Khái quát:
 
Bệnh tiểu đường (diabetes mellitus, nói tắt là diabetes) là do lượng đường ( nói chính xác là đường glucose) trong máu cao.

II.Thống kê:
 
Ở Anh khoảng 1,6 triệu người bị tiểu đường. Tại Hoa Kỳ, số người bị tiểu đường tăng từ 5.3% năm 1997 tỷ lệ 6.5% năm 2003 và tiếp tục tăng rất nhanh. Người tuổi trên 65 bị tiểu đường gấp hai lần người tuổi 45-54.
 
Tại Việt Nam, tỷ lệ người tiểu đường là 4%. Phần lớn người bệnh phát hiện và điều trị muộn, hệ thống dự phòng, phát hiện bệnh sớm nhưng chưa hoàn thiện. Vì vậy, mỗi năm có trên 70% bệnh nhân không được phát hiện và điều trị. Tỷ lệ mang tiểu đường ở lứa tuổi 30-64 là 2,7%. Hiện trên thế giới ước lượng có hơn 190 triệu người mắc bệnh tiểu đường và số này tiếp tục tăng lên. Ước tính đến năm 2010 trên thế giới có 221 triệu người mắc bệnh tiểu đường. Năm 2025 sẽ lên tới 330 triệu người ( gần 6% dân số toàn cầu). Tỷ lệ bệnh tăng lên ở các nước phát triển là 42%, nhưng ở các nước đang phát triển là 170%.
 
Nguồn: 1. Diabetes Blue Circle Symbol “International Diabetes Federation ( 17 March 2006 )
2. Diabetes overview WWW.netdoctor.co.uk
3. Diabetes in the USA medicalnewstoday.com
4. 70% bệnh nhân tiểu đường không được điều tri “vietnamnet.vn”
 
III. Triệu chứng:

Các triệu chứng thường thấy là tiểu nhiều, ăn nhiều, uống nhiều, sụt cân nhanh là các triệu chứng thường thấy ở cả hai loại.
 
Lượng nước tiểu từ 3-4 lít hoặc hơn trong 24 giờ, nước trong, khi khô thường để lại vệt bẩn hoặc mảng trắng.
 
Tiểu dầm ban đêm do niệu có thể là dấu hiệu khởi phát của đái tháo đường ở trẻ nhỏ.
 
Với bệnh nhân đái tháo đường loại 2 thường không có bất kỳ triệu chứng nào ở giai đoạn đầu và vì vậy bệnh nhân thuongf chẩn đoán muộn khoảng 7-10 năm ( chỉ có cách kiểm tra đường máu cho phép chẩn đoán ở giai đoạn này )
 
IV. Phân loại :

Bệnh tiểu đường có hai thể bệnh chính: bệnh tiểu đường loại 1 do tụy tạng không tiết insulin, và loại 2 do tiết giảm insulin và đề kháng insulin
 
1. Loại 1 (typ 1)
 
Do tụy tạng không tiết ra insulin nên lượng đường không dẫn đến được các tế bào, vì vậy, gây ra hiện tượng lượng đường trong máu tăng cao.
 
Ở người bình thường,tụy tạng tiết ra Insulin có nhiệm vụ “ mở cổng tế bào” đưa đường qua các tế bào, giúp tế bào có năng lượng
 
ở người bị bệnh tiểu đường, do không có insulin nên các tế bào không thể tiếp nhận đường từ máu, gây ra hiện tượng lượng trong máu cao.
 
2. Loại 2 (typ 2)
 
Với loại 2, tụy tạng vẫn tiết ra insulin nhưng các tế bào lại kháng insulin, vì vậy, tế bào không hấp thụ đường trong máu, gây ra hiện tượng đường trong máu cao.
 
Nghĩa là, tụy tạng vẫn tổng hợp insulin nhưng các tế bào không tiếp nhận lượng đường trong máu, làm lượng đường trong máu cao.
 
3. Bệnh tiểu đường di thai nghén
 
Tỷ lệ bệnh tiểu đường trong thai kỳ chiếm 3-5 % số thai nghén, phát hiện lần đầu tiên trong thai kỳ. Khoảng 2-5% tổng số thai phụ bị tiểu đường trước khi sinh. Sau khi sinh, bệnh tiểu đường sẽ được khắc phục hoặc thuyên giảm. Tuy nhiên, vẫn còn từ 20-50% số thai phụ sau khi sinh vẫn còn bị tiểu đường và phát triển thành typ 2.
 
V. Biến chứng của bệnh tiểu đường
Tiểu đường là một trong những bệnh lý hiện nay khá phổ biến và tốc độ tăng nhanh nhất.
 
Đây là bệnh mãn tính nếu không được điều trị tốt sẽ dẫn đến những biến chứng nguy hiểm làm giảm chất lượng sống và đe dọa tính mạng người bệnh. Hậu quả của những biến chứng này có thể gây tàn phá và tử vong cho những bệnh nhân mắc phải.
 
1. Tổn thương thần kinh và nhiễm khuẩn, nhiễm trùng ở bệnh nhân tiểu đường
 
Do lượng đường trong máu quá cao, làm tổn thương các mách máu nhỏ nuôi dây thần kinh. Bệnh nhân có thể bị tổn thương thần kinh ngoại vi, làm thay đổi cảm giác, giảm cảm giác, tê bì hoặc kim châm, yếu cơ. Các dấu hiệu này thường hay xảy ra ở bàn chân nên bàn chân dễ bị tổn thương gây loét có thể làm nhiễm trùng, hoại tử và phải cắt cụt chi để bảo toàn tính mạng.
 
2. Tổn thương thận
 
Do hàm lượng đường trog máu luôn cao gây tổn thương hàng triệu vi mạch tại thận dẫn đến suy giảm các chức năng quan trọng lọc, bài tiết của thận, nặng hơn nữa có thể dẫn đến suy thận không hồi phục.
 
3. Bệnh lý mạch máu và tim
 
Biến chứng tim mạch ở bệnh nhân tiểu đường là cực kỳ nguy hiểm và rất thường gặp. Bệnh nhân rất dễ bị cao huyết áp, xơ cứng động mạch, nhồi máu cơ tim, tai biến mạch máu não gây bại liệt hoặc tử vong. Các số liệu thống kê cho thấy 65% tỷ lệ tử vong ở bệnh tiểu đường là do mạch máu.
 
4. Nhiễm trùng 
 
Bệnh nhân tiểu đường rất dễ bị nhiểm trùng ở bất cứ bộ phận nào điển hình như: răng miệng, lợi, nhiểm trùng da gây mụn nhọt, nấm, nhiểm trùng đường tiểu, bàng quang, thận
 
5. Tổn thương ở mắt 
 
Những mạch máu nhỏ tại võng mạc dễ bị nghẽn, vỡ trong lòng mắt gây ra tổn thương dẫn đến các bệnh lý võng mạc. Mặt khác, tiểu đường có thể làm đục thủy tinh thể, tăng nhãn áp, gây mù lòa. Thật ra, bệnh tiểu đường là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây mù mắt cho người trưởng thành từ 20 – 74 tuổi.
 
VI. Nguyên nhân:
 
Nhờ có insulin mà đường được đưa đến các tế bào để sinh năng lượng cho cơ thể hoạt động. Nếu insulin tiết ra không đủ, hay là vì lí do gì đó, tế bào tiếp nhận insulin không đủ thì lượng đường trong máu sẽ tăng cao mà phát sinh ra bệnh tiểu đường.
 
Trong cơ thể con người có một bộ phận chịu trách nhiệm sản xuất insulin để điều tiết lượng đường trong máu, đó là tụy tạng.
 
Vậy tại sao tụy tạng đang sản xuất insulin thì lại giảm tiết insulin và không tiết insuin?
 
Có 3 nguyên nhân chính
 
- Do chế độ ăn uống : thừa độc tố và thiếu chất (theo Tiến sĩ Joel D.Wallach, tác giả bài viết “ Sự trung thực của xác chết”
 
- Ô nhiễm môi trường dẫn đến hệ miễn dịch suy yếu
 
- Căng thẳng thần kinh ( stress )
 
Một trong những nguyên nhân có thể giải quyết được, đó chính là nguyên nhân thứ nhất: do ăn uống
 
VII. Điều trị:
 
Ngoài phương pháp hạ đường huyết theo Tây y thì từ những nhuyên nhân trên, theo Bác sĩ Melvyn R.Werbach – Đại học California, một số vitamin và khoáng chất đóng vai trò đặc biệt trong việc điều trị bệnh tiểu đường. Việc dùng các thực phẩm có chứa các khoáng chất như Crom, Mangan, Kẽm, Vanadium và các vitamin như : vitamin C, D, E sẽ giúp người bệnh tiểu đường duy trì lượng đường trong máu ở mức hợp lý và giúp trẻ hóa các tế bào.
 
Ngoài ra, các vitamin và khoáng chất có tính năng giúp tụy tạng hoạt động tốt hơn, mạnh hơn; giúp tụy tạng tiết ra Insulin tốt hơn; giúp insulin hoạt động hiệu quả hơn.

10 hoạt động nổi bật trong tháng


Quảng cáo