ĐÁI THÁO ĐƯỜNG: BỆNH LÝ, NGUYÊN NHÂN VÀ GIẢI PHÁP

Cập nhật lúc : 15/06/2016 15:45

Họ và tên:Nguyễn Thị Thu Nhàn
Sinh viên: Trường Đại học Dược Hà Nội
 
 
BÀI DỰ THI GIẢI PHÁP SÁNG TẠO Y TẾ CỘNG ĐỒNG
ĐÁI THÁO ĐƯỜNG:
BỆNH LÝ, NGUYÊN NHÂN VÀ GIẢI PHÁP
 
Theo số liệu của Hội Nội tiết Đái tháo đường Việt Nam, ước tính 5,7% dân số nước ta mắc bệnh đái tháo đường (hơn 4 triệu), trong đó 60% chưa được chẩn đoán phát hiện bệnh (3 triệu người). Bệnh này là nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thứ 6 trong số các nguyên nhân hàng đầu gây tử vong; đứng hàng thứ 4 trong số các nguyên nhân gây tử vong do các bệnh lây nhiễm và là nguyên nhân đứng hàng thứ 2 gây mù lòa ở người trưởng thành. Bệnh nhân thuộc đủ mọi lứa tuổi, nghề nghiệp, giới tính, vùng miền... và có xu hướng ngày càng gia tăng, gây tổn hại to lớn về vật chất và tinh thần cho gia đình cũng như xã hội.
 
Đái tháo đường là bệnh mạn tính do sự thiếu hụt tương đối hoặc tuyệt đối Insulin, gây ra rối loạn chuyển hóa hydrocarbon. Bệnh đặc đặc trưng bởi sự tăng đường huyết mãn tính và các rối loạn chuyển hóa khác. Hay gặp đái tháo đường tuýp I (đái tháo đường phụ thuộc Insulin) và đái tháo đường tuýp II (đái tháo đường không phụ thuộc Insulin). 
 
Theo phân tích của Liên đoàn Phòng chống đái tháo đường thế giới, đến nay căn bệnh này không còn là bệnh của người giàu mà đang gia tăng nhanh chóng ở mọi tầng lớp xã hội, đặc biệt là những người có sự thay đổi về lối sống, ít vận động. Nó được dự báo là đại dịch của thế kỷ 21,là thách thức lớn với tất cả các quốc gia, trong đó có Việt Nam. 
 
Tuy không nằm trong nhóm quốc gia có tỷ lệ bệnh nhân đái tháo đường cao nhất thế giới, nhưng Việt Nam là một trong 10 quốc gia có tỷ lệ mắc đái tháo đường cao nhất châu Á và nằm trong tốp 10 quốc gia có tỷ lệ gia tăng bệnh đái tháo đường cao nhất thế giới.Tại Hội thảo “Bệnh đái tháo đường trong mối quan tâm về y tế toàn cầu” ngày 29/5/2014, các chuyên gia đã cảnh báo bệnh đái tháo đường ở Việt Nam đã và đang có chiều hướng gia tăng nhanh chóng ở hầu khắp mọi miền của cả nước, đặc biệt tại các thành phố lớn và khu công nghiệp. Tính đến năm 2014, trong 10 năm qua, số bệnh nhân mắc đái tháo đường tại Việt Nam đã tăng đến 211% với gần 5 triệu người mắc và cứ 10 ca thì có 6 ca được chẩn đoán có biến chứng. Ước tính gánh nặng bệnh tật toàn cầu của WHO cho thấy năm 2008 ở Việt Nam có khoảng 17000 người chết vì các biến chứng của bệnh đái tháo đường
 
Đái tháo đường được xem là “kẻ giết người thầm lặng” vì bệnh không có triệu chứng đặc hiệu để người bệnh cảnh giác. Bệnh khởi phát một cách âm ỉ với các triệu chứng: khát nhiều, đi tiểu thường xuyên, đói thường xuyên hoặc đột nhiên đói, mệt mỏi, mờ mắt, khô miệng, ngứa khắp cơ thể, sụt cân đột ngột. Đến khi có biểu hiện, phát hiện ra bệnh thì đã xuất hiện rầm rộ các biến chứng nguy hiểm..
 
Các biến chứng nguy hiểm của đái tháo đường có thể dẫn đến mù lòa, tàn phế, thậm chí dẫn đến tử vong. Biến chứng thường gặp và cực kỳ nguy hiểm là biến chứng tim mạch. Bệnh nhân rất dễ bị cao huyết áp, xơ cứng động mạch, nhồi máu cơ tim, tai biến mạch máu não gây bại liệt hoặc tử vong. Biến chứng tổn thương thần kinh ngoại biên gây viêm đơn hoặc đa dây thần kinh; tổn thương thần kinh cảm giác gây mất cảm giác; tổn thương thần kinh vận động gây liệt, yếu cơ; tổn thương thần kinh thực vật gây hạ huyết áp tư thế đứng, nhịp tim nhanh lúc nghỉ, nguy hiểm nhất là “cái chết trước bình minh”. Biến chứng trên thận, gây giảm chức năng lọc, bài tiết của thận, dẫn đến suy thận mạn. Biến chứng trên mắt, gây tổn thương vi mạch mắt dẫn đến các bệnh lý đục thủy tinh thể, tăng nhãn áp, gây mù lòa.
Nguyên nhân của đái tháo đường là gì? Với bệnh tiểu đường tuýpI là do sự thiếu Insulin trầm trọng của cơ thể, khi bị thiếu Insulin thì lượng đường trong máu không được chuyển hóa đến tế bào trong cơ thể nên không thể sinh ra năng lượng. Lúc này đường theo máu và được đào thải qua nước tiểu. Các yếu tố chính của bệnh đái tháo đường tuýpI là: bệnh tự miễn, hệ gen nhạy cảm, tác động của môi trường. Đái tháo đường bắt đầu ở các cá thể có hệ gen nhạy cảm (HLA-DR3 và HLA-DR4), khi yếu tố môi trường tác động sẽ khởi động quá trình bệnh lý trên những người có hệ gen nhạy cảm. Đái tháo đường tuýp I do hệ thống miễn dịch thể hiện ở các tế bào bạch cầu trong hệ thống miễn dịch của cơ thể tấn công tế bào beta. Chính lý do này làm cho tuyến tụy suy giảm hoặc mất hẳn chức năng sản xuất Insulin. Ngoài ra, yếu tố môi trường, thực phẩm, vi khuẩn, virus và các độc tố gây ra sự phá hủy tế bào beta của tuyến tụy gây nên bệnh lý.
 
Với bệnh đái tháo đường tuýp II được phát hiện khi cơ thể không còn sản xuất đủ Insulin hoặc sự suy giảm về khả năng sử dụng Insulin. Về cơ bản, có 2 nguyên nhân chính gây nên bệnh đái tháo đường tuýp II: yếu tố di truyền và do béo phí, lười vận động. Yếu tố di truyền: Gen đóng vai trò quan trọng đối với bệnh đái tháo đường tuýp II. Gen hoặc những nhóm gen biến thể có thể tác động làm suy giảm khả năng sản xuất Insulin của tuyến tụy. 
 
Béo phì và lười vận động gây dư thừa calo, mất đi sự cân đối calo với hoạt động của cơ thể gây tình trạng kháng Insulin. Khi nạp quá nhiều dinh dưỡng vào cơ thể mà không có chế độ vận động hợp lý sẽ tác động tới tuyến tụy và gây áp lực ép tuyến tụy phải sản xuất Insulin, trong thời gian dài tuyến tụy sẽ suy yếu và mất dần đi khả năng sản xuất Insulin gây nên bệnh đái đường.
 
Bệnh đái tháo đường còn có nguyên nhân xã hội. Lối sống hiện đại, sự lao động quá tải, cuộc sống đô thị hóa đang làm thay đổi tập quán ăn uống, giảm hoạt động thể lực. Ănđồ ăn nhanh đang ngày càng trở thành một xu thế thời thượng. Trong đồ ăn nhanh có chứa rất nhiều calo và gây hại đến sức khỏe con người. Đồng thời sức ép công việc ngày càng tăng, làm việc trí óc ngày càng phổ biến, việc ngồi bàn làm việc, lười vận động, thiếu ngủ và stress cũng là các yếu tố nguy cơ của bệnh tuổi đường. Các yếu tố nguy cơ này sẽ gây ra tình trạng đề kháng Insulin, dẫn đến rối loạn dung nạp Glucose (tiền đái tháo đường), tiếp tục dẫn đến bệnh đái tháo đường. 
 
Ngoài ra, còn một số thủ phạm ít người biết đến, trong đó có chứng béo phì. Thân hình “trái táo”: Phụ nữ có vòng eo ≥80 cm, đàn ông có vòng bụng ≥ 90 cm thì có nguy cơ bị tiểu đường tuýp II tăng cao hơn do lượng mỡ tích tụ quanh các nội tạng trong bụng có thể sinh ra những chất gây mất cân bằng Insulin và Glucose, gây bệnh tiểu đường. Bỏ bữa ăn sáng có thể gây hạ đường huyết đột ngột, khiến họ thèm ăn ngọt; việc giải tỏa cơn thèm sẽ làm đường huyết tăng đột ngột và kích thích sản sinh insulin quá mức, gây ra bệnh. 
 
Theo Hiệp hội Đái tháo đường Hoa Kỳ khuyến cáo, nên kiểm tra phát hiện sớm đái tháo đường ở mọi người dân trên 45 tuổi. Nên thực hiện kiểm tra phát hiện sớm đối với những đối tượng dưới 45 tuổi có kèm theo một trong những yếu tố, nguy cơ sau: có lối sống ít vận động; gia đình có người bị đái tháo đường (cha mẹ, anh chị em ruột); có tăng huyết áp; rối loạn chuyển hóa mỡ; thuộc chủng tộc có nguy cơ cao (trong đó có châu Á); đã được chẩn đoán tiền đái tháo đường trước đó; phụ nữ sinh con to (trên 4kg); được chẩn đoán đái tháo đường thai kỳ; có hội chứng buồn trứng đa nang để phát hiện các đối tượng tiền đái tháo đường. Từ đó những đối tượng tiền đái tháo đường sẽ được tư vấn, hướng dẫn chế độ ăn uống, sinh hoạt phù hợp để làm giảm tiến triển đến đái tháo đường thật sự. Đây là chiến lược đơn giản, rẻ tiền và hiệu quả nhất được Liên đoàn Đái tháo đường thế giới và Tổ chức sức khỏe thế giới nhấn mạnh.
 
Như rất nhiều bệnh khác, bệnh đái tháo đường cũng biểu hiện qua các triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng. Tuy nhiên nếu chỉ dựa vào các dấu hiệu bệnh lý thường được mô tả theo kiểu 3 nhiều (ăn nhiều, uống nhiều, tiểu nhiều) thì sẽ bỏ sót nhiều trường hợp tiểu đường và dễ nhầm với các bệnh lý khác. Do đó, cần phải nâng cao hiểu biết về bệnh tiểu đường cho cộng đồng để theo dõi, phát hiện các triệu chứng cơ bản của bệnh tiểu đường như: người mệt mỏi thường xuyên, hay bị tỉnh giấc giữa đêm; tiểu nhiều, khát nhiều; nhanh đói; giảm cân không kiểm soát, không có lý do; vết thương lâu lành; mắc các bệnh về da, da có cảm giác ngứa; mờ mắt; nhiễm nấm; dễ bị cảm cúm và cảm lạnh… Kết hợp đồng thời kiểm tra sức khỏe với các phương pháp kiểm soát đường huyết: Thử đường trong nước tiểu, đo đường huyết bằng máy đo đường huyết và một số xét nghiệm chuyên môn (xét nghiệm HbA1C). 
 
Ngày nay, đã có máy đo đường huyết để kiểm soát đường huyết tại nhà với giá rẻ. Do vậy vấn đề phát hiện sớm bệnh tiểu đường chủ yếu liên quan đến nhận thức, ý thức của người dân và việc quản lý của nhà nước mà trực tiếp là Bộ Y tế. Đối với người dân, cần ý thức về vấn đề sức khỏe của mình, khám sức khỏe định kỳ để có thể phát hiện sớm bệnh đái tháo đường; có chế độ ăn uống, làm việc, luyện tập thể dục thể thao hợp lý để giảm thiểu các yếu tố nguy cơ gây bệnh tiểu đường. Đối với các nhà lãnh đạo, cần phải thực hiện các chương trình và các biện pháp chủ chốt, biện pháp liên ngành để có thể thực hiện việc phát hiện sớm bệnh đái tháo đường một cách hiệu quả nhất mà vẫn đảm bảo cân bằng về lợi ích và chi phí sử dụng. 
 
Bộ Y tế cần phải đảm bảo có sẵn các dịch vụ chẩn đoán và quản lý bệnh mạn tính trong mạng lưới chăm sóc sức khỏe ban đầu, đặc biệt là ở trạm y tế. Cần phải xây dựng năng lực chẩn đoán và quản lý bệnh tiểu đường cho nhân viên y tế từ các cấp địa phương (trạm y tế xã). Thúc đẩy việc xây dựng và ban hành các chính sách và quy định nhằm đưa công tác quản lý bệnh đái tháo đường trở thành 1 phần của hoạt động cung ứng chăm sóc sức khỏe thường xuyên ở cấp xã. Xây dựng hệ thống mạng lưới lưu trữ thông tin bệnh nhân cho phép kiểm soát toàn bộ thông tin về tuổi, tiền sử gia đình, vấn đề sức khỏe… của bệnh nhân để có thể kiểm soát và phát hiện sớm các yếu tố nguy cơ của bệnh đái tháo đường. 
 
Hành động đa ngành, yêu cầu bắt buộc phải có giấy khám sức khỏe cách đó nhiều nhất 6 tháng trong tất cả các loại thủ tục giấy tờ (xin visa, hộ chiếu, chuyển trường, đăng ký học, đi công tác…) để mọi người dân sẽ phải kiểm tra sức khỏe thường xuyên hơngóp phần phát hiện sớm bệnh. Thực hiện các chương trình truyền thông về bệnh đái tháo đường để nâng cao nhận thức cho người dân và lo ngại của người dân về mức độ nguy hiểm của bệnh đái tháo đường. Từ đó nâng cao ý thức tự giác kiểm tra sức khỏe định kỳ của mỗi người. 
 
Mỗi thời đại đều có những căn bệnh phổ biến, đặc trưng. Đái tháo đường là một trong những căn bệnh như vậy trong xã hội công nghiệp và hậu công nghiệp. Căn bênh do nhiều nguyên nhân gây ra, trong đó có nguyên nhân sinh lý học, kinh tế - xã hội, lao động, lối sống.... Do đó, phòng và chữa căn bệnh thế kỷ này rất cần sự phối hợp của nhiều ngành và sự kết hợp của nhiều biện pháp, trong đó ngành y tế là chủ lực. Cũng như đối với mọi bệnh khác, đối với bệnh đái tháo đường, phòng bệnh vẫn phải được xem là giải pháp tích cực nhất; điều trị kịp thời và đúng phác đồ là giải pháp quan trọng. Kết hợp Đông - Tây y, phát huy nội lực và tranh thủ mọi khả năng hợp tác quốc tế... trở thành các giải pháp cần thiết, hữu ích. Nếu nhận thức và hành động như vậy, chắc chắn chúng ta sẽ góp phần khắc phục được hiểm họa này cho đất nước và thế giới.
 

10 hoạt động nổi bật trong tháng


Quảng cáo