Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích được tiến hành tại tỉnh Bắc Ninh từ năm 2009 đến 2010 trên 882 đối tượng được chọn bằng phương pháp chọn mẫu nhiều giai đoạn.

Cập nhật lúc : 21/06/2013 09:42

TÓM TẮT
Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích được tiến hành tại tỉnh Bắc Ninh từ năm 2009 đến 2010 trên 882 đối tượng được chọn bằng phương pháp chọn mẫu nhiều giai đoạn. Sử dụng bộ câu hỏi có cấu trúc để phỏng vấn, khám lâm sàng, xét nghiệm tìm trứng sán dây trong phân, xét nghiệm máu tìm sự có mặt của kháng nguyên ấu trùng sán dây lợn bằng kháng thể đơn dòng. Tỷ lệ mắc sán dây là 3,5 %, tỷ lệ mắc sán dây ở nam 5,0 % cao hơn so với ở nữ giới 1,4%, khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p = 0,015 < 0,05; có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa việc ăn thịt tái, thịt còn sống và tình trạng hiện mắc sán dây trưởng thành với c2 = 14,5, p < 0,01, OR = 5,7, những người ăn thịt tái, thịt còn sống có nguy cơ mắc bệnh cao gấp 5 lần những người không ăn thịt tái hoặc thịt sống. Tỷ lệ mắc ấu trùng sán là 4,3 %, tỷ lệ mắc ở nữ giới là 6,0 % cao hơn nam giới 3,1%, sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p = 0,028 < 0,05; có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa tiền sử mắc sán dây và tình trạng hiện mắc ấu trùng sán với c2 = 52,2, p= 0 < 0,01; OR = 12,2; CI=7,8 – 17,6, những người có tiền sử mắc sán dây có nguy cơ mắc bệnh ấu trùng sán cao gấp 12 lần những người không từng mắc sán dây. Tỷ lệ người có kiến thức về bệnh sán dây, ấu trùng sán đạt yêu cầu là 11,1 %; thái độ đúng đối với bệnh sán dây là 52,7 %, thực hành phòng chống bệnh sán dây đạt yêu cầu là 12,1%, nữ giới thực hành phòng chống bệnh sán tốt hơn nam giới với c2 = 21; p=0 < 0,01; OR= 4,4; CI= 2,2 - 8,5. Tỷ lệ hộ gia đình có nhà tiêu không hợp vệ sinh là 61,6 %. Tỷ lệ hộ gia đình nuôi lợn thả rông 6,6 %, lợn thả ăn phân người 4,2 %; tỷ lệ hộ dùng phân bắc tươi bón cây trồng là 41,4 %. Chưa tìm thấy mối liên quan giữa kiến thức và thái độ đối với thực hành phòng chống bệnh sán (p> 0,05).
Từ khóa: sán dây trưởng thành, thịt tái, thịt sống, cyticercosis.
SUMMARY OF TOPICS
The study describes a cross-sectional analysis was conducted in Bac Ninh province from 2009 to 2010 on 882 subjects were selected by means of multi-stage sampling. Using a structured questionnaire to interview, physical examination, tests for tapeworm eggs in stool, blood test antigen in the presence of the pork tapeworm larvae using monoclonal antibodies. Tapeworm prevalence was 3.5%, the incidence of tapeworm 5.0% higher in men than in women 1.4%, this difference was statistically significant with p = 0.015 <0.05 ; a significant association between meat consumption statistics pale, flesh and living condition is getting mature tapeworm with c2 = 14.5, p <0.01, OR = 5.7, the re-eating meat, meat re-live living with risk is 5 times those who do not re-eating meat or meat re-live. The incidence of liver fluke larvae was 4.3%, the incidence in women was 6.0% higher than men 3.1%, this difference is statistically significant with p = 0.028 <0.05; correlation is statistically significant between history and status get tapeworm larvae prevalence with c2 = 52.2, p<0.01; OR = 12.2; CI = 7.8 - 17.6, those with a history of suffering from tapeworm disease risk fluke larvae 12 times higher than those who do not ever get a tapeworm. The rate of patients who have knowledge of tapeworm, tapeworm larvae pass is 11.1%, the right attitude for the 52.7% sick tapeworm, prevention practices tapeworm pass is 12, 1%; the women practice better preventive male worms with c2 = 21; p <0.01; OR = 4.4; CI = 2.2 to 8.5. Percentage of households with no sanitary latrine is 61.6%. Percentage of households ranging 6.6% of pigs, pig feed and feces drop 4.2%, the percentage of households using fresh human excrement fertilizer plant is 41.4%. Not found the relationship between knowledge and attitudes toward
prevention practices flukes (p> 0.05).
Keywords: tapeworm, re meat, raw meat, cyticercosis.
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Bệnh sán truyền qua thức ăn là bệnh ký sinh trùng gây ảnh hưởng lớn đến sức khoẻ con người, nhiều trường hợp gây nên những thể bệnh hiểm nghèo và có thể dẫn đến tử vong . Bệnh liên quan với tập quán ăn thức ăn chưa nấu chín như thịt tái, nem thính, nem chua, gỏi cá, tôm cua nướng, rau sống... Tại Việt Nam, bệnh ATSL được phân bố rải rác ở nhiều nơi. Theo tác giả Phạm Văn Thân và cộng sự vùng đồng bằng nhiễm sán dây 0,5-2,0 %; vùng trung du, miền núi nhiễm sán dây 2-6% [3]. Theo kết quả nghiên cứu của Viện Sốt rét - Ký sinh trùng - Côn trùng Trung ương và Trung tâm y tế dự phòng tỉnh Bắc Ninh tại xã Phú Hòa, Lương Tài, Bắc Ninh, tỷ lệ bệnh sán dây là 12,6 %, ấu trùng sán lợn 5,7% [2].
            Những năm gần đây tại Bắc Ninh số người mắc bệnh sán dây trưởng thành và bệnh ấu trùng sán dây lợn đến khám tại Bệnh viện tỉnh, Trung tâm y tế dự phòng tỉnh và Viện SR- KST- CT TƯ có chiều hướng gia tăng, trong số đó có nhiều trường hợp đã tử vong với các biến chứng co giật, động kinh. Tại tỉnh chưa có đề tài nghiên cứu đánh giá tỷ lệ bệnh và kiến thức, thái độ, thực hành của người dân trong việc phòng chống bệnh sán dây, ấu trùng sán. Một câu hỏi đặt ra là tỷ lệ bệnh sán dây và bệnh ấu trùng sán là bao nhiêu, nhận thức, thái độ và việc thực hành phòng chống bệnh sán tại tỉnh như thế nào. Việc đánh giá ban đầu về tỷ lệ bệnh giun, sán nói chung và bệnh sán dây, bệnh ấu trùng sán là một nhiệm vụ trọng tâm của ngành y tế Bắc Ninh từ đó đề ra biện pháp phòng bệnh hiệu quả, góp phần nâng cao sức khỏe người dân trong tỉnh. Vì những lý do trên, chúng tôi tiến hành đề tài: “Thực trạng mắc bệnh sán dây, ấu trùng sán lợn và một số yếu tố liên quan tại tỉnh Bắc Ninh năm 2009-2010”.
II. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1. Đối tượng nghiên cứu: Là 882 người có nguy cơ mắc bệnh sán dây, ấu trùng sán tại tỉnh Bắc Ninh được lựa chọn theo phương pháp chọn mẫu nhiều giai đoạn.
2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu :
 - Thời gian thực hiện : từ tháng 01 năm 2009 đến tháng 4 năm 2010.
 - Địa điểm nghiên cứu : Bắc Ninh là tỉnh có tập quán canh tác chính là trồng lúa và trồng rau màu. Việc sử dụng phân bắc, phân tươi để bón còn phổ biến dẫn đến ô nhiễm môi trường, tạo điều kiện cho các bệnh ký sinh trùng phát triển, ngoài ra người dân trong một số huyện còn có tập quán ăn thịt lợn tái, thịt sống, nem thính.
3. Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang.
III. KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN
1. Tỷ lệ mắc sán dây trưởng thành.
5.jpg
Biểu đồ 1: Tỷ lệ mắc sán dây trưởng thành
Tỷ lệ mắc sán dây tại điểm nghiên cứu của chúng tôi cao hơn so với kết quả trong nghiên cứu của tác giả Nguyễn Văn Đề và cộng sự tại một điểm thuộc huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình (cũ) có tỷ lệ mắc sán dây là 0,1 % [1] do tập quán ăn thịt tái, sống tại Đà Bắc, Hòa Bình thấp hơn 4,5 % [1] so với 43 % trong nghiên cứu của chúng tôi. Tỷ lệ này cũng phù hợp với các nghiên cứu của tác giả Lê Đình Công và cộng sự trong một nghiên cứu năm 1998 ở vùng đồng bằng Bắc bộ là 1- 4 % .
 
5-(1).jpg
Biểu đồ 2: Tỷ lệ mắc ấu trùng sán.
Tỷ lệ mắc ấu trùng sán trong nghiên cứu là 4,3 % thấp hơn của tác giả Nguyễn Văn Đề trong nghiên cứu tương tự tại Phú Hòa, Lương Tài, Bắc Ninh có tỷ lệ là 5,7% [2]. Sự khác biệt này có thể là do hai nghiên cứu có cách chọn địa điểm nghiên cứu khác nhau, nghiên cứu của chúng tôi thực hiện trên phạm vi toàn tỉnh, đối tượng được thông qua việc khám sàng lọc tại các xã trong nghiên cứu, còn trong nghiên cứu của Nguyễn Văn Đề đối tượng chọn là chủ hộ gia đình và địa điểm nghiên cứu trong phạm vi một xã. Tỷ lệ mắc bệnh ấu trùng sán lợn 4,3% cao hơn rất nhiều so với tỷ lệ bệnh sán theo niên giám thống kê y tế năm 2005 của Bộ Y tế có tỷ lệ là 0,03% . Kết quả mắc ấu trùng sán trong nghiên cứu của chúng tôi tương tự tỷ lệ bệnh trong nghiên cứu của tác giả Phan Anh Tuấn tại các bệnh viện ở thành phố Hồ Chí Minh từ năm 1992 - 2000 tỷ lệ 4,3% [4]. Điểm khác nhau là nghiên cứu của chúng tôi tiến hành trên cộng đồng dân cư tại một một tỉnh vùng đồng Bắc bộ, còn trong nghiên cứu [4] đối tượng nghiên cứu là bệnh nhân đến khám và điều trị tại các bệnh viện.
5-(2).jpg
Biểu đồ 3. KAP phòng chống bệnh sán dây, ấu trùng sán lợn
Tỷ lệ người có kiến thức về bệnh sán dây đạt là 11,1 %; có 52,7 % số đối tượng nghiên cứu có thái độ đúng với việc phòng chống bệnh sán. Chỉ có 12,1 % số người có thực hành phòng chống bệnh sán tốt. Chúng tôi nhận thấy so với một số bệnh truyền nhiễm nói chung và bệnh do ký sinh trùng nói riêng thì tỷ lệ số người đạt về kiến thức, thái độ và thực hành tại địa bàn nghiên cứu là rất thấp. Tại điểm nghiên cứu người dân và mạng lưới y tế chưa quan tâm đến công tác phát hiện, tuyên truyền và can thiệp phòng chống bệnh giun sán.
 
5-(3).jpg
Biểu đồ 4 : Điểm trung bình KAP phòng chống bệnh sán dây, ấu trùng sán lợn
 
            Điểm trung bình kiến thức là 5,7/ 18; thái độ 5,8/ 9 ; thực hành 5,8/ 12. Trước đây chưa có những nghiên cứu tương tự về bệnh sán dây có thang điểm đánh giá về kiến thức, thái độ và thực hành nên chúng tôi cũng chưa so sánh được. Chúng tôi đưa ra thang điểm đánh dựa vào sự hiểu biết về nguyên nhân, đường lây bệnh, tác hại của bệnh, cách nhìn nhận đối với bệnh sán dây, khả năng điều trị và biện pháp phòng chống và được tính điểm cho những câu đúng theo những bằng chứng khoa học về bệnh sán dây và ấu trùng sán dây lợn đã được công nhận trên Thế giới và Việt Nam. Điểm trung bình chung KAP trong nghiên cứu thấp so với KAP trong một số bệnh truyền nhiễm khác.
 
5-(4).jpg
Biểu đồ 5: Thực trạng vệ sinh ăn uống (n = 882).
            Theo bảng trên ta thấy có 43,0 % và 58,4% số người đã từng ăn thịt tái hoặc thịt sống trong vòng 05 năm gần đây. Có 22,8 % thường xuyên uống nước lã và có 63,8% không rửa tay trước khi ăn, sau đi ngoài.
 
5-(5).jpg
Biểu đồ 6: Thực trạng vệ sinh môi trường (n = 882).
 
            Tỷ lệ hộ gia đình có hố xí là 97,2%,hộ gia đình không có hố xí 2,8 %. Tỷ lệ hộ gia đình có hố xí hợp vệ sinh là 38,4%, không hợp vệ sinh 61,6 %. Hộ gia đình nuôi lợn thả rông 6,6 %, lợn có ăn phân người 4,2 %. Tỷ lệ hộ gia đình dùng phân bắc bón cây trồng là 60,8 %, dùng phân bắc tươi bón cây trồng là 41,4 %.Tỷ lệ dùng phân bắc tươi tại điểm nghiên cứu là 41,4 % cao hơn rất nhiều so với tỷ lệ 11,6 % ở vùng nông thôn theo điều tra y tế quốc gia năm 2001- 2002 (trang 459).Chứng tỏ tập quán sử dụng phân bắc tươi bón ruộng còn phổ biến và là nguyên nhân dẫn đến tình trạng nhiễm bệnh sán tại điểm nghiên cứu.
            Tỷ lệ không có hố xí là 2,8 % cao hơn so với tỷ lệ trong Điều tra y tế quốc gia 2001- 2002 là 0,9 % cho khu vực đồng bằng Bắc bộ. Tuy nhiên tỷ lệ hố xí hợp vệ sinh chiếm 38,4 % tương đương với tỷ lệ trong điều tra quốc gia là 37,8 % cũng ở khu vực đồng bằng Bắc bộ. Việc các hộ gia đình không có hố xí hoặc hố xí không hợp vệ sinh là nguồn chính phát tán trứng sán dây ra môi trường gây tình trạng nhiễm bệnh ấu trùng sán tại tỉnh.
            Tỷ lệ hộ gia đình có nuôi lợn thả rông 6,6 % và lợn vào hố xí ăn phân là 4,2 % thấp hơn so với nghiên cứu của Nguyễn Văn Đề tại Phú Hòa – Lương Tài - Bắc Ninh tỷ lệ này là 9,0 % [2], tại Hòa Bình là 8,5% [1], do các nghiên cứu trên tiến hành trên địa bàn một hoặc vài xã nên tỷ lệ sẽ cao hơn. Các ca bệnh mắc sán dây trưởng thành là yếu tố quyết định đến sự lưu hành và lan rộng của bệnh sán dây và bệnh ấu trùng sán.
5. Một số yếu tố liên quan đến bệnh sán dây.
Bảng 1: Mối liên quan giữa thực hành phòng chống bệnh sán với giới.
 
Yếu tố so sánh
Thực hành
N
c2, OR, p, CI
Không đạt
Đạt
 
 
Giới
Nam
484(94,2%)
30(5,8%)
514
c2 = 21; p=0 < 0,01; OR= 4,4; CI= 2,2 - 8,5
Nữ
291(79,1%)
77(20,9%)
368
            Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa việc thực hành phòng chống bệnh sán dây và giới. Tỷ lệ nữ giới có thực hành đạt là 20,9 % cao hơn ở nam giới (5,8 %) có ý nghĩa thống kê với c2= 21, p < 0,01, OR= 4,4, CI= 2,2- 8,5 , tỷ lệ nữ giới có thực hành tốt cao gấp 4 lần so với nam giới.
 
Bảng 2: Mối liên quan giữa giới tính, tập quán ăn uống, tiền sử mắc sán dây với tình trạng hiện mắc sán dây trưởng thành.
 
Yếu tố so sánh
Tỷ lệ mắc bệnh sán dây
N
c2, OR, p, CI
Mắc bệnh
Không mắc
 
Giới tính
Nam
26(5,0%)
488(95,0%)
514
c2 = 12,5; p=0,015 < 0,05
Nữ
5 (1,4%)
363(98,6 %)
368
Thường xuyên ăn nem thính ( 5 năm gần đây )
Ăn nem
 27 (5,2%)
488(94,8%)
515
c2 = 10,5; p=0,008 < 0,01 OR= 6,4; CI= 5,2 - 20,2
Không ăn nem
 04 (1,1 %)
362(98,9%)
367
Thường xuyên ăn thịt tái, sống ( 5 năm gần đây)
Ăn tái
24 (6,3%)
355 (93,7%)
379
c2 = 14,5; p=0,002 < 0,01 OR= 5,7; CI= 2,2- 15,4
Không ăn tái
7 (1,4%)
496(98,6)
503
             
Có sự khác biệt về tỷ lệ mắc sán dây ở nam giới và nữ giới: ở nam (5,0% ) cao hơn so với ở nữ giới ( 1,4%). Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p = 0,015 < 0,05.
            Có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa việc ăn nem thính ( trong 5 năm trở lại đây) với tình trạng hiện mắc sán dây trưởng thành với c2 = 10,5, p < 0,01, OR = 6,4. Những người ăn nem thính có nguy cơ mắc bệnh cao gấp 6 lần những người khác.
            Có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa việc ăn thịt tái, thịt còn sống và tình trạng hiện mắc sán dây trưởng thành với c2 = 14,5, p < 0,01, OR = 5,7. Những người ăn thịt tái, thịt còn sống có nguy cơ mắc bệnh cao gấp 5 lần những người không ăn thịt tái hoặc thịt sống.
 
Bảng 3: Mối liên quan giữa giới tính, tập quán ăn uống, tiền sử mắc sán dây với tình trạng hiện mắc ấu trùng sán lợn.
 
Yếu tố so sánh
Tỷ lệ mắc bệnh ATSL
N
c2, OR, p, CI
Mắc bệnh
Không mắc
 
Giới tính
Nam
16(3,1%)
498(96,9%)
514
c2 = 7,6; p=0,028 < 0,05
OR= 4,2; CI= 2,5 - 18,4
Nữ
22 (6,0%)
346(94,0 %)
368
Đã từng ăn nem thính ( 5 năm gần đây )
Ăn nem
 33 (6,4%)
482(93,6%)
515
c2 = 16,1; p=0,002 < 0,01 OR= 4,4; CI= 3,2- 12,4
Không ăn nem
 5 (1,4 %)
362(98,6%)
367
Tiền sử mắc sán dây
Có tiền sử
 28(18,0 %)
58 (82,0%)
157
 c2 = 52,2; p=0 < 0,01 OR= 12,2; CI= 7,8 - 17,6
Không có tiền sử
 10 (1,4 %)
715(98,6 %)
725
 
Tỷ lệ mắc ấu trùng sán ở nữ giới 6,0% cao hơn nam giới 3,1%. Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p = 0,028 < 0,05; OR = 4,2; CI = 2,5 – 18,4.
Có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa việc ăn nem thính ( trong 5 năm trở lại đây) với tình trạng hiện mắc ấu trùng sán với c2 = 16,1, p = 0,002< 0,01, OR = 4,4; CI= 3,2 – 12,4. Những người ăn nem thính có nguy cơ mắc bệnh cao gấp 4 lần những người khác.
Có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa tiền sử mắc sán dây và tình trạng hiện mắc ấu trùng sán với c2 = 52,2, p= 0 < 0,01; OR = 12,2; CI=7,8 – 17,6. Những người có tiền sử mắc sán dây có nguy cơ mắc bệnh ấu trùng sán cao gấp 12 lần những người không từng mắc sán dây.
            So sánh việc thực hành phòng chống bệnh sán với giới chúng tôi thấy có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,01, OR = 4,4 thấy nữ giới có thực hành tốt gấp 4,4 lần so với nam. Đồng thời có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa nam và nữ với tình trạng nhiễm bệnh sán dây, tỷ lệ nam giới nhiễm bệnh 5,0% cao hơn ở nữ 1,4%, chứng tỏ tập quán ăn thịt tái, sống phổ biến ở đối tượng nam giới, phụ nữ tuy làm nông nghiệp hàng ngày trực tiếp tiếp xúc với điều kiện môi trường kém nhưng họ lại chú ý hơn nam giới trong vấn đề vệ sinh cá nhân như rửa tay trước ăn, sau đi ngoài, sau khi đi làm đồng về, không uống nước lã . Đối với việc ăn uống nữ giới cũng chú ý hơn, đa số những phụ nữ được hỏi nói rằng ăn nem thính hoặc thịt tái, sống gây cho họ cảm giác ghê sợ, không dám ăn . Một nguyên nhân khách quan khác là chế độ ăn của người phụ nữ chủ yếu là ở gia đình, ít khi ăn tiệc tùng, hàng quán hơn nam giới, vì vậy tỷ lệ mắc bệnh sán dây thấp hơn ở nam giới. Tuy nhiên tỷ tỷ lệ mắc ấu trùng sán trong nghiên cứu ở nữ giới 6,0% cao hơn nam giới 3,1% có ý nghĩa thống kê do phụ nữ trong nghiên cứu của chúng tôi đều có nghề nghiệp làm ruộng, tiếp xúc trực tiếp với phân bắc trong quá trình canh tác, đồng thời tập quán vệ sinh rưa tay trước khi ăn, sau khi đi ngoài kém hơn nam giới.
            Có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa tiền sử mắc sán dây trong 05 năm gần đây và tình trạng hiện mắc. Chứng tỏ đang có sự lưu hành bệnh trong vòng ít nhất là 05 năm trở lại và những ca bệnh chưa được hoặc không được điều trị triệt để là nguyên nhân gây phát tán bệnh ra xung quanh. Có sự liên quan có ý nghĩa thống kê giữa việc ăn nem thính và ăn thịt tái trong 05 năm gần đây với tình trạng hiện mắc sán dây , những người ăn nem thính có nguy cơ mắc bệnh cao gấp 6 lần, ăn thịt tái có nguy cơ gấp 5 lần so với những người không ăn. Điều đó khẳng định tại điểm nghiên cứu tập quán ăn nem thính và thịt tái là nguyên nhân chính gây nhiễm sán dây trưởng thành từ những người bệnh đó phát tán trứng sán dây ra môi trường xung quanh gây mắc bệnh ấu trùng sán dây cho người khác.
Có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa tiền sử mắc sán dây trong 05 năm gần đây và tình trạng hiện mắc ấu trùng sán, những người có tiền sử mắc sán dây có nguy cơ mắc ấu trùng sán cao gấp 12 lần so với nhũng người chưa tùng mắc sán dây.
IV. KẾT LUẬN
            Qua kết quả nghiên cứu tại tỉnh Bắc Ninh chúng tôi đưa ra một số kết luận sau:
            Tỷ lệ mắc sán dây 3,5 %, tỷ lệ mắc ở nam cao hơn ở nữ. Những người thường xuyên ăn thịt tái, thịt còn sống( thịt lợn, bò) có nguy cơ mắc bệnh cao gấp 5 lần những người khác. Tỷ lệ mắc ấu trùng sán lợn 4,3 % và gặp nhiều ở nữ giới cao hơn ở nam giới.Tỷ lệ người dân có kiến thức và thực hành phòng chống bệnh sán dây và ấu trùng sán lợn rất thấp với 11,1% và 12,1%. Phụ nữ có xu hướng thực hành việc vệ sinh phòng chống bệnh sán tốt hơn so với nam giới. Điểm trung bình về kiến thức, thái độ và thực hành phòng chống bệnh sán dây, ấu trùng sán lợn rất thấp với điểm kiến thức: 5,7 điểm/ thang 18 điểm; thái độ: 5,8 điểm/ thang 9 điểm; thực hành: 5,8 điểm/ thang 12 điểm.
Tại tỉnh nghiên cứu còn tập quán ăn thịt còn sống, thịt tái và ăn nem thính ( 43% và 58%), điều kiện vệ sinh môi trường còn kém ( tỷ lệ có hố xí không hợp vệ sinh 61,6%) còn tập quán nuôi lợn thả rông và sử dụng phân tươi để bón cây trồng khá phổ biến (41,4% ) là điều kiện thuận lợi để bệnh sán dây, ấu trùng sán lợn lưu hành và phát triển.
Kiến nghị :
Cần phát hiện sớm và điều trị triệt để, có hiệu quả cho những người mắc bệnh nhằm giảm nguồn lây bệnh ở cộng đồng.
Tăng cường truyền thông giáo dục sức khoẻ nâng cao kiến thức và thực hành phòng chống bệnh sán qua các cuộc nói chuyện cộng đồng và vận động người dân (chú ý đến đối tượng nam giới). Làm tốt công tác vệ sinh môi trường, hạn chế tập quán ăn thịt tái, sống gây nguy cơ mắc bệnh sán dây và ấu trùng sán lợn.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
I.Tiếng Việt:
1. Nguyễn Văn Đề, Hoàng Thị Kim, Nguyễn Duy Toàn, Anna Kongs, Katrien Depractere, Trần Quốc Tuý, Nguyễn Quang Thiều, Lê Đình Công, Đinh Vân Kiều (2001), Tình hình nhiễm ký sinh trùng đường ruột và sán truyền qua thức ăn tại tỉnh Hoà Bình", Kỷ yếu công trình nghiên cứu khoa học 1996 - 2000, Viện Sốt rét - Ký sinh trùng - Côn trùng trung ương, Nhà Xuất bản Y học Hà Nội.
2. Nguyễn Văn Đề, Annete Eharte và cộng sự (2001), Nghiên cứu dịch tễ, chẩn đoán và điều trị bệnh ấu trùng sán dây lợn tại Bắc Ninh, Tạp chí phòng chống bệnh sốt rét và các bệnh ký sinh trùng, Viện Sốt rét - Ký sinh trùng - Côn trùng Trung ương, Số 3 năm 2001.
3. Phạm Văn Thân, Nguyễn Thị Minh Tâm, Phạm Hoàng Thế, Phạm Trí Tuệ, Hoàng Tân Dân, Trương Kim Phượng, Phan Thị Hương Liên (2001), Ký sinh trùng y học, Nhà xuất bản Y học Hà Nội.
4. Phan Anh Tuấn (2004). Ứng dụng kỹ thuật ELISA bằng kháng nguyên dịch nang để chẩn đoán Cysticercus cellulosae và đặc điểm của bệnh này tại các bệnh viện TP Hồ Chí Minh từ 1992- 2000, Luận án tiến sỹ y học, Đại học y dược thành phố Hồ Chí Minh.
5. Hán Đình Trọng (2005), Đánh giá tình hình nhiễm giun sán tại 3 xã huyện Bảo Yên, tỉnh Lao, Tạp chí phòng chống bệnh sốt rét và các bệnh ký sinh trùng, Viện Sốt rét - Ký sinh trùng - Côn trùng Trung ương, Số 6 năm 2005, trang 89 - 93 
II. Tiếng Anh:
            6. Cao W. et al.(1997), " Risk factor for human cysticercosis morbidity: a population - based case - control study", Epidemiol - Infect 119(2), pp. 231- 235.
            7. Lui X. et al.(2002)," Epiminological study on taeniasis and cysticercosis in Shangdong Province", Zhonggguo Ji Sheng Chong Xue Yu Ji Sheng Chong Bing Za Zhi, 20(1), pp. 25 - 58.
            8. Carrique M. J. (2001)," An epiminology study on T.solium cysticercosis in rural population in the Bolivian Chaco", Acta tropical, 80(3), pp.229- 235.
 

10 hoạt động nổi bật trong tháng

Thăm dò ý kiến 1 Theo bạn những Bác sĩ trẻ tham gia Dự án mục đích là gì ?

Thăm dò ý kiến 2 Theo bạn những Bác sĩ trẻ tham gia Dự án cần có những gì ?

Quảng cáo